- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23-4-2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Xuân Tỵ
2. Bà Phạm Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1989. Nơi cư trú: đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Minh T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử cũng như lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thu H trình bày: Bà và ông Võ Minh T tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 08/01/2010. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẽ trong cuộc sống, những năm gần đây ông T không còn quan tâm các con, hơn nữa tính tình không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên tranh cải, mâu thuẫn vợ chồng không có cách khắc phục. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 2/2018 đến nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Võ Tuyết Th sinh ngày 18/6/2010 và Võ Tuyết V sinh ngày 21/6/2013; hiện các con đang ở với bà và cháu Th có nguyện vọng ở với mẹ. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con vì bà có nghề nghiệp, thu nhập, nơi ở ổn định.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có.
Trong quá trình xét xử bị đơn ông Võ Minh T trình bày: Ông xác nhận việc đăng ký kết hôn như lời trình bày của bà H là đúng. Cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn không khắc phục được nên vợ chồng không có hạnh phúc, hiện cả hai đã sống ly thân và ông cũng không còn tình cảm vợ chồng với bà H, nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như bà H trình bày. Ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình cho bà H được ly hôn với ông T vì mục đích hôn nhân không đạt. Về con chung, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con, đề nghị giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Minh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không thuộc trường hợp bất khả kháng, nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông T hiện cư trú tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp do hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, bà H xác định cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn. Ông T trình bày mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, hiện cả hai đã sống ly thân hơn một năm nay và ông cũng không còn tình cảm với bà H. Thực tế qua xác minh chính quyền địa phương và người thân của hai vợ chồng thì hiện nay cả hai đang sống ly thân, mạnh ai nấy sống. Với thực trạng hôn nhân như trên đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và kéo dài, có tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung của hai bên đều chính đáng, xong nhận thấy trong thời gian vợ chồng ly thân thì bà H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con; ông T làm nghề xây dựng, do tính chất công việc nên thường xa nhà, hơn nữa các cháu còn nhỏ và là bé gái tâm sinh lý phù hợp sự chăm sóc của mẹ, cháu Th có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của các cháu cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con; giao hai con chung tên Võ Tuyết Th sinh ngày 18/6/2010 và Võ Tuyết V sinh ngày 21/6/2013 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không xem xét.
. Bà H và ông T xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thu H và ông Võ Minh T.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung tên Võ Tuyết Th sinh ngày 18/6/2010 và Võ Tuyết V sinh ngày 21/6/2013 cho bà Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2016/0002752 ngày 14 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND TP. Bảo Lộc; - Chi cục THADS TP. Bảo Lộc; - UBND X. L, TP. B, tỉnh LĐ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |