vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/01/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Vinh T.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H được ly hôn. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Vinh T.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18-01-2019
V/v “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Bá Xanh

Ông Ngô Xuân Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 18 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2018/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Vinh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ cư trú: Xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989.

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm 5, N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ cư trú hiện tại: Số 156, đường Sán Đầu, thôn Sán Đầu, xã Thần Cảng, huyện Chương Hóa, lãnh thổ Đài Loan, vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Vinh T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 15/02/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến tháng 12 năm 2015, chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn liên lạc bình thường nhưng từ năm 2016 trở đi vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn thường xuyên. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm sống và hai người ở xa nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Hiện tại, anh Nguyễn Vinh T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Nguyễn Vinh N, sinh ngày 25/02/2012. Hiện con chung đang ở với anh và được anh trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và chưa yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị H không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Chị được anh Nguyễn Vinh T thông báo về việc anh đã nộp đơn ly hôn chị tại Tòa án. Do đó, chị đã gửi sổ hộ chiếú, bản tự khai (được hợp pháp hóa lãnh sự, có chứng thực của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt nam tại Đài Bắc vào ngày 20/12/2018) đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trình bày: Chị thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh Nguyễn Vinh T trình bày. Năm 2015 chị đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Từ đó đến nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt dần và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Nguyễn Vinh T làm đơn xin ly hôn thì chị cũng chấp nhận.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Vinh T có 01 con chung là Nguyễn Vinh N, sinh ngày 25/02/2012. Hiện con chung đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng là đúng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị nhất trí nhường con chung cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh T tự thỏa thuận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Nguyễn Vinh T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại chị đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với anh T nên trong bản tự khai, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án vắng mặt chị. Đồng thời chị H đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến mẹ của chị là bà Hoàng Thị X, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn 1, Phong Nha, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình và bà Xuân sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Vụ án Ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Vinh T hiện cư trú tại tỉnh Nghệ An khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại lãnh thổ Đài Loan, trước xuất cảnh, chị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Nguyễn Thị H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và yêu cầu không hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong bản tự khai, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị H phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bản tự khai và các tài liệu do chị H cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Vinh T đã được đọc bản tự khai của chị H gửi từ lãnh thổ Đài Loan về cho Tòa án và thừa nhận đúng chữ viết, chữ ký của chị H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Quảng bình vào ngày 15/02/2011, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2015, chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó đến nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt dần và không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện tại, anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Vinh T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

. Về con chung: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung, hiện con chung đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H thỏa thuận: Anh Nguyễn Vinh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Vinh N, sinh ngày 25/02/2012 đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Vinh T chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa ghi nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

. Về án phí: Anh Nguyễn Vinh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Vinh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H được ly hôn.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

Giao cho anh Nguyễn Vinh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là là Nguyễn Vinh N, sinh ngày 25/02/2012 (hiện đang do anh Nguyễn Vinh T quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng) đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Vinh T chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Vinh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Vinh T và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Vinh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000916 ngày 12/12/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Vinh T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Vinh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trườ ng hợp Bản án được thi hành the o quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự thi ngườ i được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền

̀ thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyê ̣n thi hành án hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án th eo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6, 7 và 9 Luâ ̣t Thi hành án dân sự ; thờ i hiê ̣u thi hành án được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ