- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn giữa H1 và D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị La Thu H1.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST Ngày 27/11/2019 “V/v Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Châu Kha
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị i Liên và bà Huỳnh Thị Thu Sương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Kh c Nghiệp - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2018/TLST-HNGĐ, ngày 24/4/2018 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/10/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/11/2019 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị La Thu H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn 2B, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Kpá Y D, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 2B, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. V ng mặt.
- Ng i c quy n l i ngh a v liên quan c yêu c u độc l p: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Sông Hinh; địa chỉ liên hệ: 08 Trần Hưng Đạo, thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình P – Giám đốc Phòng giao dịch huyện Sông Hinh (văn bản ủy quyền 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016). Ông Trần Đình P ủy quyền lại cho ông Trần Văn Thanh M, Phó giám đốc Phòng giao dịch huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa (văn bản ủy quyền ngày 27/11/2019). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đ ngày 05 tháng 4 năm 2018 và các l i khai trong
quá trình giải quyết v án, chị La Thu H1 (sau đây viết tắt là nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Nguyên đơn và anh Kpá Y D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn v i nhau ngày 20/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thu n do anh D hay uống rượu, không lo làm ăn, không có trách nhiệm v i gia đình và vay mượn tiền để tiêu xài cá nhân. Nguyên đơn đã nhiều lần bỏ qua, khuyên can nhưng anh D không sửa chữa sai lầm; m i lần khi nguyên đơn khuyên can thì vợ chồng cãi nhau và anh D lại bỏ nhà đi. Khoảng giữa năm 2017 vợ chồng không còn sống chung. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn v i anh Kpá Y D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Kpá Thị Nhã H2, sinh ngày 30/7/2013, hiện nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn nguyên đơn có nguyên v ng tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Kpá Y D cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh số tiền 30.000.000 đồng của chương trình cho vay: Sản xuất kinh doanh vùng khó khăn theo Khế ư c số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015; nợ ông Phan Ng c H3 trú tại thôn Suối Dứa, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên 40.000.000 đồng (quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã tự nguyện trả xong khoản tiền này và ông H3 đã có đơn không yêu cầu khoản tiền này gửi cho Tòa). Khi ly hôn nguyên đơn tự nguyện chịu trách nhiệm trả số tiền nợ còn lại là 30.000.000 đồng và khoản tiền lãi phát sinh theo quy định cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh khi đến hạn trả nợ.
Quá trình giải quyết v án, anh pá D ng (sau đây gọi tắt là bị đơn) không đến Tòa và c ng không c kiến trình bày.
- i di n theo ủy quy n của Ngân hàng ch nh sách hội Vi t Nam – hòng giao dịch huy n ông Hinh c đơn yêu c u độc l p trình bày: Hộ gia đình chị La Thu H1 anh Kpá Y D trú tại thôn 2B, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Sông Hinh theo mã món vay 660000705841255 số tiền 30.000.000 đồng của chương trình cho vay: Sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, tiền lãi tính đến ngày 02/5/2018 là 996.233 đồng, tổng cộng 30.996.233 đồng. Nay vợ chồng chị H1 anh D ly hôn yêu cầu Tòa giải quyết phân chia trách nhiệm trả nợ ai nhận nhà thì có trách nhiệm trả nợ khi đến hạn.
TAND huyện Sông Hinh tiến hành hòa giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan v ng mặt nên hòa giải không được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn v n giữ nguyên yêu cầu ly hôn, con chung, tài sản chung. Riêng khoản nợ Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh số tiền 30.000.000 đồng của chương trình cho vay: Sản xuất kinh doanh vùng khó khăn theo Khế ư c số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015 nguyên đơn đã thanh toán xong cả gốc và lãi và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Sông Hinh xác nhận khoản vay 30.000.000 đồng của chương trình cho vay: Sản xuất kinh doanh vùng khó khăn theo Khế ư c số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015 của vợ chồng, nguyên đơn đã thanh toán xong cả gốc và lãi. Ngoài ra, vợ chồng vay một khoản nợ khác là 40.000.000 đồng (gốc), lãi tính đến ngày 27/11/2019 là 447.506 đồng. Tuy nhiên, đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Sông Hinh xin rút yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối v i bị đơn nhưng không đến Tòa để giải quyết vụ án; trong quá trình giải quyết c ng như tại phiên tòa nguyên đơn khai vợ chồng sống không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn tình cảm v i nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao Kpá Thị Nhã H2 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét. Về nợ chung: Ghi nhận nguyên đơn đã thanh toán xong cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh số tiền 30.000.000 đồng và lãi phát sinh theo mã món vay số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015. Về số tiền nợ ông Phan Ng c H3 đã có đơn không yêu cầu giải quyết và số tiền vay m i Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch Sông Hinh do đã rút yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn v i bị đơn Kpá Y D theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là tranh chấp ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn 2B, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về v ng mặt của bị đơn:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa nên tiến hành hòa giải không được. Sau đó, vụ án đưa ra xét xử Tòa án đã niêm yết hợp lệ nhưng bị đơn v n cố tình v ng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử v ng mặt bị đơn là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân:
Nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện được UBND xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 03 ngày 20/11/2014 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối v i bị đơn để hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn không đến và c ng không có ý kiến trình bày gì đối v i các yêu cầu của nguyên đơn. Tại Biên bản xác minh ngày 16/9/2019 và các Bản tự khai của nguyên đơn đều thể hiện bị đơn và nguyên đơn đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Quá trình giải quyết vụ án c ng như tại phiên tòa nguyên đơn đều yêu cầu giải quyết cho ly hôn v i bị đơn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn lâm vào tình trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.
Về con chung:
Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên là Kpá Thị Nhã H2, sinh ngày 30/7/2013, hiện nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án c ng như tại phiên tòa nguyên đơn đều có nguyện v ng tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung đang sống v i nguyên đơn ổn định từ nhỏ nên giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp v i sự phát triển tâm sinh lý của tr em. Ngoài ra, hiện nguyên đơn đang làm công nhân có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối v i bị đơn thường xuyên bỏ nhà đi xa, không có sự gần g i, chăm sóc con chung. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về m i mặt của tr em, cần chấp nhận theo nguyện v ng của nguyên đơn giao con chung Kpá Thị Nhã H2 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng, tài sản chung:
Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung:
Tại phiên tòa nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh đều xác nhận, nguyên đơn đã thanh toán xong cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh khoản vay 30.000.000 đồng (gốc) và lãi 996.233 đồng của chương trình cho vay: Sản xuất kinh doanh vùng khó khăn theo mã món vay số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận là có căn cứ.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Sông Hinh yêu cầu vợ chồng nguyên đơn và bị đơn trả khoản vay m i là 40.000.000 đồng (gốc) và lãi tính đến ngày 27/11/2019 là 447.506 đồng. Tuy nhiên, đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Sông Hinh đã rút yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xác nhận vợ chồng có nợ ông Phan Ng c H3 trú tại thôn Suối Dứa, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 13/3/2019 ông Phan Ng c H3 có đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không triệu tập ông Hòa tham gia tố tụng và không xem xét là có căn cứ.
Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn thuộc diện hộ cận ngh o theo Giấy chứng nhận hộ ngh o, hộ cận ngh o số 594/GCN-NH-HCN ngày 02/01/2019 và có đơn xin miễn giảm án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị La Thu H1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho nguyên đơn chị La Thu H1 ly hôn bị đơn anh Kpá Y D.
2. Về con chung: Giao con chung Kpá Thị Nhã H2, sinh ngày 30/7/2013 cho nguyên đơn La Thu H1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành.
Anh Kpá Y D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về nợ chung: Ghi nhận nguyên đơn đã thanh toán xong cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Sông Hinh số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) và lãi phát sinh theo mã món vay số 6600000705841255, ngày vay 30/10/2015.
4. Về án phí: Nguyên đơn La Thu H1 được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn v ng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Sông Hinh; - CCTHADS huyện Sông Hinh; - UBND xã Sông Hinh; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN NGUYỄN THỊ ÁI LIÊN HUỲNH THỊ THU SƯƠNG | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Châu Kha THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA BÙI CHÂU KHA |