vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Lê Văn C. Về con chung: Giao con Lê Thị Hồng H – sinh ngày: 14/3/2006 và Lê Hoàng Bảo P – sinh ngày: 16/4/2009 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn con chung"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22/8/2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và ông Đoàn Nhƣ Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B – sinh năm: 1978

Trú tại: Tổ 2, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn C – sinh năm: 1976

Trú tại: Tổ 6, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2019 và quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Văn C kết hôn vào năm 2005 có đăng kí tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2017 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cãi vã. Nguyên nhân do ông C không lo làm ăn, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Tháng 4/2019 ông C nghỉ việc ở Trung tâm y tế huyện M và đi nơi khác làm ăn nên ít khi về thăm vợ con, không quan tâm đến con cái cũng không gửi tiền nuôi con. Vì hôn nhân không có hạnh phúc nên bà B yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà B yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà B và ông C có 02 con chung tên là Lê Thị Hồng H – sinh ngày: 14/3/2006 và Lê Hoàng Bảo P – sinh ngày: 16/4/2009. Bà B có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà B xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Lê Văn C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không có yêu cầu gì. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do tại các buổi hòa giải ngày 03/4/2019 và ngày 22/5/2019, cũng như tại phiên tòa ngày 06/8/2019. Tại phiên tòa hôm nay ông C vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt nên không có lời trình bày trong hồ sơ vụ án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà B có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống ông bà đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống cũng không có hạnh phúc và từ tháng 4/2019 đến nay ông C và bà B cũng không còn chung sống với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn của hai vợ chồng ông C và bà B đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà B. Về con chung: Ông C và bà B có 02 con chung là Lê Thị Hồng H và Lê Hoàng Bảo P. Hiện các con đang ở với bà B, do bà B chăm sóc. Vì vậy đề nghị giao cả hai con chung cho bà B nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà B không yêu cầu ông C cấp dưỡng. Về tài sản chung, bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà B phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Lê Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị B và ông Lê Văn C kết hôn vào năm 2005 có đăng ký tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do UBND thị trấn Đak Đoa cấp số 32, quyển số 01 ngày 11/7/2005 mà bà B đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông C là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Trong quá trình chung sống ông C và bà B có xảy ra mâu thuẫn. Hiện ông bà đang sống ly thân từ tháng 4/2019. Nguyên nhân do ông C không lo làm ăn, thường vay nợ và bị chủ nợ đến nhà đòi tiền làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mẹ con bà B. Đã nhiều lần bà B khuyên giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn mà mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông C đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần. Điều đó thể hiện ông C không có thiện chí muốn hòa giải đoàn tụ với bà B. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau mà mặc ai nấy sống dẫn đến tình cảm hiện nay không còn. Tình trạng mâu thuẫn do nguyên đơn trình bày phù hợp với biên bản xác minh ngày 12/7/2019 tại tổ 6, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà B và ông C không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B.

Về con chung: Bà B và ông C có 02 con chung tên là Lê Thị Hồng H – sinh ngày: 14/3/2006 và Lê Hoàng Bảo P – sinh ngày: 16/4/2009. Bà B có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 con vì từ ngày ông C nghỉ việc đến nay ông thường hay vắng nhà, không quan tâm chăm sóc cũng như cấp dưỡng nuôi con. Các con cũng có lời khai thể hiện nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Vì vậy cần giao cả 02 con cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà B không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Bà B xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Lê Văn C.

Về con chung: Giao con Lê Thị Hồng H – sinh ngày: 14/3/2006 và Lê Hoàng Bảo P – sinh ngày: 16/4/2009 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000855 ngày 22/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/8/2019), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Gia Lai;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Mang Yang;

- Các đương sự;

(Đã ký)

- Chi cục THADS huyện Mang Yang (khi án có hiệu lực);

- UBND TT.Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai (khi án

Trương Nam Trung có hiệu lực)

- Lưu HS, AV.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ