- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con anh H và chị N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Danh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST Ngày 13-3-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Kho
Bà Lương Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982. Đăng ký HKTT: Thôn 5, xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 1, xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Đỗ Danh T, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn 5, xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 03 tháng 12 năm 2018 và các bản khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện chung sống với anh Đỗ Danh T từ đầu năm 2000, có tổ chức cưới, sống công khai nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Giữa năm 2009 anh chị phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên chơi bời cờ bạc, dẫn đến anh chị xúc phạm nhau, chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 8 năm 2017 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh T.
Về con chung: Anh chị có 02 con là Đỗ Danh C, sinh ngày 23/12/2000; Đỗ Thị Hải Y, sinh ngày 08/02/2010 đang do anh T nuôi dưỡng. Do chị thường xuyên phải đi chợ mua bán tôm cá từ sớm, không có thời gian chăm sóc con; nếu ly hôn, chị đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y đến khi đủ 18 tuổi; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con giữa chị và anh T đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết; cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi mình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đỗ Danh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai ngày 03/01/2019 trình bày thống nhất với chị N về thời gian, điều kiện chung sống. Mâu thuẫn của anh chị phát sinh từ giữa năm 2009, do bất đồng quan điểm sống, chị N không quan tâm đến anh, dẫn đến anh chị thường xuyên xúc phạm nhau, chị N đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 8 năm 2017 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị N xin ly hôn, anh không đồng ý.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung như chị N đã trình bày. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y đến khi đủ 18 tuổi; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con giữa anh và chị N đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Anh T là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 15, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội và Thông tư liên tịch số 01 /2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Danh T là vợ chồng.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Hải Y, sinh ngày 08/02/2010 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên đương sự đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản, công nợ: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn là anh T vắng mặt, nhưng anh T đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
Về quan hệ pháp luật: Đây là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Qua lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã K1 cung cấp thì chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Danh T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay chị N xin ly hôn anh T; căn cứ vào điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; điểm b Mục 2 Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cáo, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân của anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Cần tuyên bố không công nhận chị N và anh T là vợ chồng như quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Danh C, sinh ngày 23/12/2000; Đỗ Thị Hải Y, sinh ngày 08/02/2010. Anh chị đều thống nhất cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết; giao cháu Y cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi phù hợp với nguyện vọng của cháu Y; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hai bên đương sự đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét sự thỏa thuận đó là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; được công nhận.
Về tài sản, công nợ: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; các Điều 14, 15, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Danh T là vợ chồng.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu Đỗ Thị Hải Y, sinh ngày 08/02/2010 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên đương sự đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Đỗ Danh C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nphải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012072 ngày 18 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị N đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |