vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim P "Ly hôn" Bùi Thanh S"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2019
“V/v Ly hôn giữa chị P và anh
S”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Hồng Điều

2. Ông Trần Văn Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 652/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1989

Địa chỉ cư trú: Số 22, ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Bùi Văn S, sinh năm 1988

Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

(Chị P có mặt, anh S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Về hôn nhân: Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2006, chị và anh Bùi Văn S đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/6/2007. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình và thường xuyên cờ bạc nên vợ chồng xảy ra cãi vã. Chị và anh S đã không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2018 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị và anh S có một con chung tên Bùi Nguyễn Gia K, sinh ngày 06/6/2007, cháu K hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Quá trình chung sống chị và anh S không có nợ chung.

Bị đơn anh Bùi Văn S vắng mặt và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Cháu Bùi Nguyễn Gia K có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và những người tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Về hôn nhân: Xét thấy, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập nhiều lần để các đương sự hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt, từ đó cho thấy anh S cũng không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng, do đó, tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh S đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Về con chung: Xét cần giao cháu Bùi Nguyễn Gia K cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản, nợ chung: Do các bên không tranh chấp về tài sản chung và không có nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn S. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn anh Bùi Văn S đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S.

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị P xin ly hôn với anh S, thấy rằng: Chị P và anh S có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/6/2007 (Giấy đăng ký số 40/2007) nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh S là hợp pháp. Theo chị P, sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh S không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình và thường xuyên cờ bạc nên dẫn đến vợ chồng cãi vã. Hơn nữa, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt cho anh S các văn bản tố tụng để tham gia vụ án. Tuy nhiên, anh S đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị P. Từ đó, cho thấy anh S cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân của chị P và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.

Về nuôi con chung: Theo lời trình bày của chị P cùng các chứng cứ do chị P cung cấp thì chị P và anh S có 01 (một) con chung tên Bùi Nguyễn Gia K, sinh ngày 06/6/2007. Sau khi ly hôn, chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu K. Xét thấy, hiện cháu K đang sống với chị P, cuộc sống đã ổn định, khả năng chị P có thể chăm sóc con chung tốt. Hơn nữa, cháu Bùi Nguyễn Gia K có nguyện vọng là muốn sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu nên giao cháu Bùi Nguyễn Gia K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về phần cấp dưỡng nuôi con, do chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản, nợ chung: Chị P trình bày không tranh chấp về tài sản chung và không có nợ chung. Anh S vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 57, 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim P về việc “ly hôn” với anh Bùi Văn S.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim P và anh Bùi Văn S.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Nguyễn Gia K, sinh ngày 06/6/2007 cho chị Nguyễn Thị Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh Bùi Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, Toà án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007245 ngày 12/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Chị P đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Thị Kim P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ