vanban.org

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Sanh - Bùi Thị Liên"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!BẢO!THẮNG!
TỈNH!LÀO!CAI!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HNGĐ-ST
Ngày 07 - 5 - 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BẢO!THẮNG!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lìn Thị Lài."

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết.

2. Ông Lê Xuân Cương.

Thư"ký"phiên"toà: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại"diện"viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Bảo"Thắng"tham"gia"phiên"tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2019/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn:"Anh"Trần"Văn"Sanh"-"Tên"gọi"khác:"Trần"Lưu"Sanh"-"Sinh" năm"1984." "

Địa"chỉ:"Thôn"Phú"Thịnh"5,"xã"phú"Nhuận,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai"-" có"mặt." "

2."Bị"đơn:"Chị"Bùi"Thị"Liên"-"Sinh"năm"1989."

""""""""""""""""""""""""""" """"""""""Địa"chỉ:"Thôn"Phú"Thịnh"5,"xã"phú"Nhuận,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai"-" Vắng"mặt."

"!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2019 và bản tự khai ngày 08/01/2019 cũng như tại phiên tòa, anh Trần Văn Sanh trình bầy: Anh và chị Bùi Thị Liên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2008, tại UBND xã Minh An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc đến đấu năm 2014 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng tôi không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã nhau, cuộc sống không mang lại hạnh phúc. Tháng 3 năm 2014 chị Liên đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình con cái, dẫn đến tình cảm vợ chồng nhạt dần, từ đó vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Tháng 6 năm 2018 anh đã nộp đơn xin ly hôn với chị Liên tại Tòa án nhưng sau đó anh đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên sau khi anh rút đơn vợ chồng anh vẫn không về sống với nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể khắc phục được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị Liên.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có hai con chung là cháu Trần Lưu Ánh, sinh ngày 23/11/2008 và cháu Trần Lưu Quang, sinh ngày 11/10/2011, hiện nay các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng anh, khi ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, anh không yêu cầu chị Liên cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung:!Quá trình chung sống vợ chồng anh không có tài sản chung.

Về công nợ chung: Vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay mượn gì, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Bùi Thị Liên đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng chị không có văn bản trả lời đối với yêu cầu của người khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Liên được, do chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Liên đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án.

Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã xác định: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo trình tự pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn Sanh. Xử cho anh Trần Văn Sanh được ly hôn chị Bùi Thị Liên; Xử giao cháu Trần Lưu Ánh, sinh ngày 23/11/2008 và cháu Trần Lưu Quang, sinh ngày 11/10/2011, cho anh Trần Văn Sanh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị Liên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn Sanh khởi kiện xin ly hôn với chị Bùi Thị Liên đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, anh Sanh và chị Liên có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Phú Thịnh 5, xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Sanh và chị Bùi Thị Liên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã nhau, cuộc sống không mang lại hạnh phúc. Tháng 3 năm 2014 chị Liên đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình con cái, dẫn đến tình cảm vợ chồng nhạt dần, từ đó vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Tháng 6 năm 2018 anh Sanh nộp đơn xin ly hôn với chị Liên tại Tòa án nhưng sau đó anh đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên sau khi anh rút đơn vợ chồng anh chị vẫn không về sống với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Tại phiên toà hôm nay, anh Sanh giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Liên.

Đối với chị Bùi Thị Liên vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Liên được, vì trong quá trình giải quyết vụ án chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Liên đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt chị Liên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, việc anh Sanh xin ly hôn với chị Liên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Sanh và chị Liên có hai con chung là cháu Trần Lưu Ánh, sinh ngày 23/11/2008 và cháu Trần Lưu Quang, sinh ngày 11/10/2011. Tại phiên tòa hôm nay anh Sanh vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, anh không yêu cầu chị Liên cấp dưỡng tiền nuôi con. Tại đơn xác nhận mức thu nhập (BL29-30) thì anh Sanh làm ruộng, chăn nuôi thu nhập bình quân là 7.000.000đ/tháng, ngoài ra anh còn làm thêm thôn đội trưởng, phụ cấp được 1.500.000đ/tháng. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã lấy lời khai của cháu Ánh và cháu Quang thì các cháu đều có nguyện vọng được anh Sanh trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của anh Sanh là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của cháu Ánh và cháu Quang nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Ánh và cháu Quang cho anh Sanh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Sanh không yêu cầu chị Liên cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Sanh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử cho anh Trần Văn Sanh - Tên gọi khác: Trần Lưu Sanh được ly hôn với chị Bùi Thị Liên.

2. Về con chung: Xử giao cháu Trần Lưu Ánh, sinh ngày 23/11/2008 và cháu Trần Lưu Quang, sinh ngày 11/10/2011, cho anh Trần Văn Sanh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị Liên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn, chị Bùi Thị Liên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Trần Văn Sanh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007834 ngày 08/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Anh Trần Văn Sanh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi"nhận:" "

"

"""""""""""""""""""" TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- TAND tỉnh Lào Cai;

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- VKSND huyện Bảo Thắng (2);

!

- THADS huyện Bảo Thắng (2);

!

- UBND xã Minh an, huyện Văn

! Chấn, tỉnh Yên Bái;

!

- Đương sự (02);

!

- Lưu HS, TA, VP .

!

Lìn!Thị!Lài

Cỡ chữ