- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NH C - S"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc bà Võ Thị S phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc là 8.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/DS - ST Ngày: 06/8/2019 V/v Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đinh Công Thuyên;
2/ Ông Phan Trường Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2018/TLST - DS, ngày 20 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST - DS, ngày 10/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2019/QĐST - DS, ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện M giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Tòa nhà C5, khu B, quận H, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T; chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh N; chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện M theo Quyết định ủy quyền số: 4716/QĐ – NHCS, đề ngày 25/11/2016 của Tổng giám đốc Ngân hàng C.
Người được ủy quyền lại: Ông Trần Đức N, chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện M theo văn bản ủy quyền số: 216/GUQ-NHCS ngày 05/8/2019.
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Bà Võ Thị S
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 (hai) không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2018; các lời khai và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/8/2013 Ngân hàng C - Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện M đã giải ngân cho bà Võ Thị S vay với số tiền là 8.000.000đ theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, thời hạn vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 17/8/2018. Lãi suất cho vay là 0.9%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 1.170%/tháng, tiền lãi được trả định kỳ hàng tháng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Võ Thị S không thực hiện đúng các điều khoản đã được thỏa thuận, bà S không thừa nhận có vay nợ và không đồng ý trả nợ cho Ngân hàng, đến nay đã quá hạn trả nợ, số tiền vay 8.000.000đ đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 18/8/2018. Do đó, Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu bà S phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 8.000.000đ, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 2.351.760đ, trong đó: tiền lãi trong hạn là 1.250.400đ, tiền lãi quá hạn là 1.101.360đ và tiền lãi phát phát sinh cho đến khi bà S thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 13/8/2013.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 26/4/2019 bị đơn là bà Võ Thị S trình bày:
Bà S thừa nhận vào năm 2013 bà có làm hồ sơ vay 8.000.000đ tại Ngân hàng C huyện M theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, từ ngày vay đến nay bà chưa trả được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, nay Ngân hàng yêu cầu bà trả số tiền nợ gốc là 8.000.000đ và tiền lãi tạm tính đến ngày 06/8/2019 là 2.351.760đ, bà đồng ý trả nhưng vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bà yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện cho bà trả nợ.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà S phải trả cho Ngân hàng C tính đến ngày 06/8/2019 số tiền nợ gốc là 8.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 1.250.400đ, tiền lãi quá hạn là 1.101.360 và tiền lãi phát phát sinh. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định tại 177 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) nhưng bị đơn không có mặt để tham gia tố tụng. Do đó, theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 17/8/2013, Ngân hàng C đã giải Ngân cho bà Võ Thị S vay số tiền 8.000.000đ theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; thời hạn vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 17/8/2018, lãi suất cho vay là 0.9%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 1.170%/tháng.Thỏa thuận của các bên là hợp pháp.
Đến nay đã quá hạn trả nợ, bà S không trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng là vi phạm những thỏa thuận đã ký trong Hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu bà trả nợ tính đến ngày 06/8/2019 (ngày xét xử sơ thẩm) với tổng số tiền nợ là 10.351.760đ, trong đó: Số tiền nợ gốc là 8.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 1.250.400đ, tiền lãi quá hạn là 1.101.360đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi bà Sáu thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 13/8/2013 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Tuy nhiên, ngày 14/5/2019 bà S có Đơn đề nghị miễn nộp án phí, theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng C không phải chịu tiền án phí.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 465, 466, 468, 470 và Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 14, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc bà Võ Thị S phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc là 8.000.000đ và tiền lãi đến ngày 06/8/2019 là 2351.760đ, trong đó: tiền lãi trong hạn là 1.250.400đ, tiền lãi quá hạn là 1.101.360đ. Tổng cộng, bà Võ Thị S phải trả cho Ngân hàng C cả gốc lẫn lãi số tiền 10.351.760đ (Mười triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi đồng) và tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 07/8/2019 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thoả thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 13/8/2013.
[2] Về án phí: Bà S được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng C không phải chịu tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2019), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử: Đinh Công Thuyên Phan Trƣờng Chinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Bích Vân |