vanban.org

Bản án 07/2019/DSPT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 15/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015: Chấp nh n một ph n háng cáo của nguyên đ n, sửa bản án s thẩm số 34/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 của T a án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Không chấp nh n toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đ n Công ty TNHH MTV A về việc buộc ông Nguy n Ph ng T phải bồi th ờng cho Công ty TNHH MTV A số tiền 486.164.000 đồng. Không chấp nh n yêu c u của bị đ n ông Nguy n Ph ng T về việc buộc Công ty TNHH MTV A phải trả cho ông Nguy n Ph ng T số tiền phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Công ty A với Nguyễn Phương T"
  • Tòa quyết gì? 2015: Chấp nh n một ph n háng cáo của nguyên đ n, sửa bản án s thẩm số 34/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 của T a án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2019/DS-PT
Ngày 15-3-2019
“V/v tranh chấp Hợp đồng thuê địa
điểm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- h nh ph n i đ n t ph th m m :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguy n Thị Hà.

Các Thẩm phán:

Bà Nguy n Thị Thu Hà;

Bà Nguy n Thị Oanh.

- hư ký phiên tòa: ng Tr n Nh t nh – Th

Tòa án, T a án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quản rị: Ông Đỗ Hoàng Sâm – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, tại Hội tr ờng xét xử T a án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 01/2019/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về việc “ Tranh chấp Hợp đồng thuê địa điểm và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Do bản án dân s s thẩm số 34/2018/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của T a án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị bị háng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2019/QĐPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2019, giữa các đ ng s :

1. Nguyên đ n: Công ty TNHH MTV A, địa chỉ: Số 05 đ ờng D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Ng ời đại diện hợp pháp của nguyên đ n: Ông Thái Vĩnh T – Giám đốc Công ty là ng ời đại diện theo pháp lu t.

Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n: ng Võ Sỹ C – Văn ph ng Lu t s Bùi Quang S, địa chỉ: Số 20 đ ờng X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

2. Bị đ n: Ông Nguy n Ph ng T, địa chỉ: Số 11C đ ờng Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Ng ời đại diện hợp pháp của bị đ n: ng Tr n Đức A – Văn ph ng Lu t s Tr n và cộng s , địa chỉ: Số 117B đ ờng H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Là ng ời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/6/2018).

3. Ng ời háng cáo: Công ty TNHH MTV A - Là nguyên đ n trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/11/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Công ty TNHH MTV A trình bày:

Ngày 11/3/2017 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên A(Viết tắt là Công ty A) và ông Nguy n Ph ng T hợp đồng thuê địa điểm tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Theo đó Công ty A thuê của ông T 306m2 đất và ngôi nhà cấp 4 có diện tích 120m2 tại địa chỉ Quốc lộ 1A, Khu phố 5, thị trấn L èo theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số R 408446 do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cấp ngày 28/9/2001 để inh doanh dịch vụ sửa chữa xe máy và các mặt hàng hác. Hợp đồng đã đ ợc Văn ph ng công chứng Đ chứng nh n theo số công chứng 611 ngày 11/3/2017.

Ngày 09/02/2017, ông Nguy n Ph ng T đã nh n số tiền đặt cọc thuê địa điểm của Công ty Alà 42.000.000 đồng. Ngày 06/3/2017 hai bên tiến hành bàn giao mặt bằng và tài sản. Trên c sở hợp đồng đã

ết, Công ty A đã tiến hành

ết hợp đồng hảo sát, thiết ế, xây d ng mới c sở v t chất và cải tạo n i kinh doanh. Trong hi đang tiến hành cải tạo thì ông T gửi thông báo đ n ph ng chấm dứt hợp đồng thuê địa điểm. Ông T t cho ng ời hác cải tạo, xây d ng trên ph n diện tích mà công ty thuê ông T và đã đ a vào sử dụng nên hông có hả năng yêu c u tiếp tục th c hiện hợp đồng.

Công ty A hởi iện yêu c u T a án giải quyết buộc ông Nguy n Ph ng T phải trả tiền cọc, tiền phạt cọc và bồi th ờng thiệt hại cho công ty số tiền là 570.164.000 đồng. Tại phiên t a s thẩm nguyên đ n rút yêu c u phạt cọc với số tiền 84.000.000 đồng, chỉ c n giữ lại yêu c u Tòa án buộc ông Nguy n Ph ng T phải bồi th ờng cho Công ty số tiền 486.164.000 đồng (Bốn trăm tám mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng), bao gồm:

- Tiền đặt cọc 42.000.000 đồng

- Tiền bồi th ờng thiệt hại:

+ Chi phí hảo sát địa chất, hợp đồng thiết ế: 304.164.000 đồng.

+ Mất tiền đặt cọc về lắp đặt cửa ính với công ty P: 100.000.000 đồng.

+ Chi phí thuê Lu t s : 40.000.000 đồng.

Theo văn bản trình bày ý kiến ngày 08/6/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ngày 09/02/2017, ông Nguy n Ph ng T có nh n số tiền 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) của ông Thái Vĩnh T nhằm mục đích cho thuê nhà tại L. Ngày 11/3/2017 Công ty A và ông T đã tiến hành hợp đồng thuê địa điểm. Nh v y, mục đích cho việc đặt cọc tiền ngày 09/02/2017 đã đ ợc th c hiện mà hông có bên nào vi phạm. Sau đó, tại hợp đồng cho thuê địa điểm ngày 11/3/2017 hai bên thống nhất chuyển số tiền đặt cọc này sang số tiền đảm bảo cho việc th c hiện hợp đồng. Tại hợp đồng này hai bên đã thỏa thu n những nội dung chính cụ thể nh sau:

Tại mục 3.1 Điều 3 hợp đồng hai bên thỏa thu n: “Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng này bên B đặt cọc cho bên A số tiền là 42.000.000 đồng khi tiến hành ký kết hợp đồng”

Tại mục 3.2 Điều 3 hợp đồng hai bên thỏa thu n: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, nếu một trong hai bên không thực hiện hợp đồng sẽ bị phạt gấp ba số tiền đặt cọc”.

Tại Điều 4 của hợp đồng hai bên thỏa thu n về điều hoản, ph ng thức thanh toán nh sau: “Bên B chuyển trả tiền trước cho bên A 06 tháng/1 lần bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 30 tháng đầu tiên của từng đợt. Tiền thuê nhà đất được trả trước 06 tháng 1 lần. Trong trường hợp bên B chậm trả tiền thuê mặt bằng sau 30 ngày thì bên A được đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà không cần thông báo trước và hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng”.

Nh v y, theo thỏa thu n thì Công ty A phải thanh toán tiền thuê cho ông T đúng vào ngày 30/3/2017. Hết thời hạn 30 ngày, tức là ngày 30/4/2017 mà công ty A ch a thanh toán cho ông T thì ông Tcó quyền đ n ph ng chấm dứt hợp đồng mà hông c n báo tr ớc cho Công ty A.

Với các thỏa thu n tại Hợp đồng, Công ty A đã vi phạm nghiêm trọng theo thỏa thu n của hợp đồng nên ông T đã đ n ph ng chấm dứt hợp đồng theo đúng nội dung mà hai bên đã thỏa thu n trong hợp đồng nên phát sinh nghĩa vụ phạt cọc theo thỏa thu n. Ông T yêu c u Công ty A phải có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 84.000.000 đồng (Tám mươi bốn triệu đồng) tiền phạt cọc mà hai bên đã thỏa thu n.

Bản án sơ thẩm số 34/2018/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị quyết định: Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; hoản 1 Điều 147; hoản 2 Điều 244 của Bộ lu t TTDS; Điều 280; Điều 398 của Bộ lu t dân s năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí T a án, tuyên xử:

1. Không chấp nh n toàn bộ yêu c u hởi iện của Công ty TNHH MTV A về việc buộc ông Nguy n Ph ng T phải bồi th ờng thiệt hại cho Công ty A số tiền 486.164.000 đồng (Bốn trăm tám mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) bao gồm: Tiền đặt cọc là 42.000.000 đồng; tiền hảo sát, thiết ê: 304.164.000 đồng; tiền phạt cọc với công ty P: 100.000.000 đồng; tiền thuê lu t s : 40.000.000 đồng.

2. Đình chỉ yêu c u hởi iện của nguyên đ n rút tại phiên t a, cụ thể yêu c u phạt cọc với số tiền là 84.000.000 đồng.

3. Chấp nh n yêu c u của bị đ n ông Nguy n Ph ng T về việc buộc Công ty Aphải có nghĩa vụ trả cho bị đ n số tiền phạt cọc là 84.000.000 đồng (Tám mươi bốn triệu đồng )

Ngoài ra bản án s thẩm c n tuyên về án phí và quyền háng cáo cho các đ ng s .

Ngày 04/12/2018, nguyên đ n Công ty TNHH MTV A háng cáo toàn bộ bản án s thẩm, đề nghị T a án nhân dân tỉnh Quảng Trị sửa bản án s thẩm theo h ớng chấp nh n yêu c u hởi iện của nguyên đ n.

Tại phiên t a phúc thẩm, đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng hoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ lu t Tố tụng dân s sửa bản án s thẩm theo h ớng hông chấp nh n yêu càu hởi iện của nguyên đ n và hông chấp nh n yêu c u phạt cọc của bị đ n.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu trong hồ s vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên t a và căn cứ ết quả tranh tụng tại phiên t a, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nh n định:

Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đ n Công ty TNHH MTV A hởi iện yêu c u T a án buộc bị đ n ông Nguy n Ph ng T phải bồi trả tiền cọc và bồi th ờng thiệt hại cho Công ty Thảo i số tiền 486.164.000 đồng (Bốn trăm tám m i sáu triệu một trăm sáu m i bốn nghìn đồng) do vi phạm hợp đồng thuê địa điểm. Do đó Tòa án cấp s thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp Hợp đồng thuê địa điểm và yêu cầu bồi thường thiệt hại” là đúng pháp lu t.

Xét háng cáo của nguyên đ n, Hội đồng xét xử thấy:

Về việc đ a ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng:

Nguyên đ n háng cáo cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án cũng nh tại phiên t a s thẩm, nguyên đ n đề nghị T a án đ a Công ty TNHH MTV P, địa chỉ: Số 633 L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị và ông Hồ Thanh V – iến trúc s , địa chỉ: 18/15 T.T.T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị tham gia tố tụng với t cách ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nh ng hông đ ợc Thẩm phán chấp nh n.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Theo hoản 4 Điều 68 của Bộ lu t tố tụng dân s thì ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ng ời tuy hông hởi iện, hông bị iện nh ng việc giải quyết vụ án dân s có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ đ ợc t mình hoặc các đ ng s hác đề nghị và đ ợc T a án chấp nh n.

Trong vụ án này, tranh chấp hợp đồng thuê địa điểm xảy ra giữa Công ty A và ông Nguy n Ph ng T, còn Công ty P và ông Hồ Thanh V có mối quan hệ dân s độc l p với A, vì v y T a án cấp s thẩm hông chấp nh n yêu c u của nguyên đ n đ a P và ông Hồ Thanh V tham gia tố tụng với t cách ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là hợp l . Do đó Hội đồng xét xử hông chấp nh n nội dung háng cáo này của nguyên đ n.

Xem xét hợp đồng thuê địa điểm ngày 11/3/2017:

Ngày 09/02/2017, ông Nguy n Ph ng T đã nh n số tiền đặt cọc thuê địa điểm của Công ty A là 42.000.000 đồng. Ngày 06/3/2017 hai bên tiến hành bàn giao mặt bằng và tài sản. Ngày 11/3/2017 Công ty A và ông Nguy n Ph ng T

hợp đồng thuê địa điểm tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Hợp đồng đã đ ợc Văn ph ng công chứng Đ chứng nh n theo quy định của pháp lu t. Hình thức và nội dung của hợp đồng hoàn toàn hợp pháp, có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp l giữa hai bên.

Theo quy định tại hoản 1 Điều 328 của Bộ lu t Dân s năm 2015 thì “Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”.

Và hoản 2 Điều 328 Bộ lu t Dân s 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền….trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Trong vụ án này, Công ty A đặt cọc cho ông Nguy n Ph ng T số tiền 42.000.000 đồng ngày 09/02/2017, nội dung đặt cọc tiền thuê nhà. Tại phiên t a nguyên đ n thừa nh n số tiền 42.000.000 đồng là để cam ết đặt cọc th c hiện hợp đồng thuê địa điểm. Sau đó ngày 11/3/2017, hai bên

ết hợp đồng thuê địa điểm. Theo mục 3.1 Điều 3 của hợp đồng hai bên thỏa thu n: “ Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng này bên B đặt cọc cho bên A số tiền là 42.000.000 đồng khi tiến hành ký kết hợp đồng”. Theo lời trình bày của hai bên thì vào thời điểm

ết hợp đồng ngày 11/3/2017, Công ty A hông đặt cọc thêm cho ông T số tiền nào ngoài 42.000.000 đồng đã giao ngày 09/02/2017. Nh v y thỏa thu n tại mục 3.1 Điều 3 của hợp đồng thuê địa điểm mà hai bên

ết chứng minh cho việc Công ty A và ông T đã thừa nh n số tiền đặt cọc ngày 09/02/2017 trở thành tiền đặt cọc để đảm bảo cho việc th c hiện hợp đồng, chứ số tiền đặt cọc này hông đ ợc trừ để th c hiện nghĩa vụ trả tiền. Thỏa thu n này là phù hợp với quy định tại hoản 2 Điều 328 của Bộ lu t Dân s 2015.

Về thời điểm thanh toán:

Tại Điều 4 của hợp đồng hai bên thỏa thu n về điều hoản, ph ng thức thanh toán nh sau: “Bên B chuyển trả tiền trước cho bên A 06 tháng/1 lần bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 30 tháng đầu tiên của từng đợt. Tiền thuê nhà đất được trả trước 06 tháng 1 lần. Trong trường hợp bên B chậm trả tiền thuê mặt bằng sau 30 ngày thì bên A được đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà không cần thông báo trước và hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng”. Nh v y, theo thỏa thu n thì Công ty A phải thanh toán tiền thuê cho ông T vào ngày 30/3/2017. Đến ngày 30/4/2017 mà công ty A ch a thanh toán cho ông T thì ông T có quyền đ n ph ng chấm dứt hợp đồng mà hông c n báo tr ớc cho A.

Công ty Acho rằng số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng đ ợc trừ vào nghĩa vụ th c hiện hợp đồng nên nguyên đ n hông vi phạm nghĩa vụ thanh toán là hông có c sở vì theo nh phân tích ở trên thì hai bên hông hề có bất ỳ thỏa thu n cấn trừ nào, mà số tiền này đ ợc hai bên thỏa thu n là để đảm bảo cho việc th c hiện hợp đồng. Do đó, Hội đồng xét xử hông chấp nh n nội dung háng cáo này của nguyên đ n.

Về số tiền phạt cọc:

Theo mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng, hai bên thỏa thu n:“Trong quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, nếu một trong hai bên không thực hiện hợp đồng sẽ bị phạt gấp ba số tiền đặt cọc”.

Trong vụ án này, việc đặt cọc di n ra vào ngày 09/02/2017, số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng, nội dung là đặt cọc tiền cho thuê nhà. Nh v y việc đặt cọc ngày 09/02/2017 đ ợc hai bên thỏa thu n cho mục đích giao ết hợp đồng thuê địa điểm. Ngày 11/3/2017, Công ty A và ông Nguy n Ph ng T đã

ết hợp đồng thuê nhà. Vào thời iểm hai bên

ết hợp đồng thuê địa điểm thì mục đích của việc đặt cọc đã đạt đ ợc. Do hợp đồng đặt cọc đã hoàn thành và hông có vi phạm, hông có tranh chấp và đã đạt đ ợc mục đích giao ết hợp đồng thuê địa điểm nên việc T a án cấp s thẩm căn cứ mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng nêu trên để chấp nh n yêu c u của bị đ n phạt cọc nguyên đ n số tiền 84.000.000 đồng là hông có c sở.

Do đó Hội đồng xét xử thấy c n chấp nh n nội dung háng cáo này của nguyên đ n, bác yêu c u của bị đ n về việc phạt cọc.

Từ s phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy c n chấp nh n iến của đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nh n một ph n háng cáo của nguyên đ n Công ty TNHH MTV A, bác toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đ n và bác yêu c u của bị đ n ông Nguy n Ph ng T về việc phạt cọc.

Về án phí:

- n phí dân s s thẩm: Bản án s thẩm chấp nh n yêu c u của bị đ n, buộc nguyên đ n phải trả số tiền phạt cọc 84.000.000 đồng nh ng hông buộc nguyên đ n phải chịu án phí trên số tiền này là thiếu sót. Tuy nhiên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy c n sửa bản án s thẩm, hông chấp nh n yêu c u phạt cọc của bị đ n, do đó phải xác định nghĩa vụ chịu án phí s thẩm của các bên theo quy định tại hoản 1 Điều 147 và hoản 2 Điều 148 của Bộ lu t Tố tụng dân s . Theo đó nguyên đ n phải chịu án phí s thẩm trên số tiền yêu c u hởi iện 486.164.000 đồng hông đ ợc Tòa án chấp nh n, bị đ n phải chịu án phí trên số tiền yêu c u phạt cọc 84.000.000 đồng hông đ ợc Tòa án chấp nh n.

- n phí dân s phúc thẩm: Nguyên đ n hông phải chịu án phí dân s

phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào hoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ lu t Tố tụng dân s

2015: Chấp nh n một ph n háng cáo của nguyên đ n, sửa bản án s thẩm số 34/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 của T a án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Căn cứ Điều 280, Điều 328 và Điều 398 của Bộ lu t Dân s năm 2015, xử:

- Không chấp nh n toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đ n Công ty TNHH MTV A về việc buộc ông Nguy n Ph ng T phải bồi th ờng cho Công ty TNHH MTV A số tiền 486.164.000 đồng.

- Không chấp nh n yêu c u của bị đ n ông Nguy n Ph ng T về việc buộc Công ty TNHH MTV A phải trả cho ông Nguy n Ph ng T số tiền phạt cọc 84.000.000 đồng. Ông Nguy n Ph ng T hông có nghĩa vụ phải trả lại số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng của Công ty TNHH MTV A đã giao cho ông Tngày 09/02/2017.

2. Về án phí:

Căn cứ hoản 1 Điều 147, hoản 2 Điều 148 của Bộ lu t Tố tụng dân s , hoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí T a án:

Nguyên đ n phải chịu 23.447.000 đồng án phí dân s s thẩm nh ng đ ợc vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.753.000 đồng theo các biên lai thu tiền số AA/2014/0000355 ngày 12/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân s huyện L (số tiền 300.000 đồng), biên lai thu tiền số AA/2014/0000399 ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân s huyện L (số tiền 15.403.000 đồng) và biên lai thu tiền số AA/2014/0009262 ngày 30/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân s thành phố Đ (số tiền 1.050.000 đồng).

Nguyên đ n hông phải chịu án phí dân s phúc thẩm. Hoàn trả cho nguyên đ n số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009503 ngày 19/12/2018 của Chi cục thi hành án dân s thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Tổng cộng nguyên đ n Công ty TNHH MTV A còn phải nộp 6.394.000 (Sáu triệu ba trăm chín mươi bốn ngàn) đồng án phí dân s s thẩm.

Bị đ n ông Nguy n Ph ng T phải chịu 4.200.000 đồng án phí dân s s

thẩm nh ng đ ợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.100.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2014/0009191 ngày 15/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân s thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Ông T c n phải nộp 2.100.000 (Hai triệu một trăm ngàn) đồng án phí dân s s thẩm.

3. Những ph n của bản án s thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu l c pháp lu t ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp lu t ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ