vanban.org

Bản án 07/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 220, 227, khoản 3 Điều 228, 235, 241, 264, 267 BLTTDS; Điều 274, khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 463, khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V. Buộc bà Nguyễn Thị Th phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị V số tiền như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 220, 227, khoản 3 Điều 228, 235, 241, 264, 267 BLTTDS; Điều 274, khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 463, khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2019/DS-ST
Ngày 24/4/2019
(V/v:Tranh chấp hợp đồng vay tài sản)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Bảo

Các hội thẩmnhân dân: Ông Ngô Minh Hạnh, bà Võ Thị Hồng Long

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Lê

Cán bộ Toà án nhân dân huyện Con Cuông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông: Bà Phan Thị Thanh Hoa

- Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Con Cuông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2018/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXX-ST ngày 08/4/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1979 – Có mặt

Địa chỉ: Khối 2 thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1959 – Vắng mặt có lý do

Nơi đăng ký NKTT: Khối 6 thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại K1- Trại giam số 6 - Cục C10- Bộ Công an, thuộc xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 27/8/2018 và lời trình bày của nguyên đơn tại Toà án thì vụ án có nội dung như sau: Năm 2015 chị có gửi cho bà Nguyễn Thị Th 02 lần với số tiền 150.000.000đ, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 18/4/2015 chị gửi số tiền 80.000.000đ

Lần thứ hai: Ngày 20/7/2015 chị gửi tiếp số tiền 70.000.000đ

Khi gửi bà Th có làm giấy biên nhận và thỏa thuận lãi suất 1%/1 tháng. Ngày 27/6/2016 chị đã rút 01 lần với số tiền gốc là 10.000.000đ và bà Th thanh toán tiền lãi cho chị với số tiền 17.400.000đ. Sau đó do cần tiền chị đã niều lần đến hỏi nhưng bà Th không cho rút. Nay chị yêu cầu Tòa giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Th trả cho chị số tiền gốc là 140.000.000đ và tiền lãi từ tháng 6/2016 đến tháng 8 năm 2018 là 27 tháng với số tiền 37.800.000đ. Tuy nhiên tại phiên tòa chị yêu cầu Tòa buộc bà Th trả cho chị số tiền gốc là 140.000.000đ, riêng tiền lãi chị yêu cầu tính theo mức lãi suất Ngân hàng quy định với thời gian 26 tháng.

Trong quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Th thừa nhận bà còn nợ chị V số tiền cả gốc và lãi như chị V yêu cầu là đúng. Nay bà sẽ thu xếp để trả số tiền gốc cho chị V, riêng số tiền lãi hiện tại bà đang gặp khó khăn nên bà xin chị V đừng yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như việc ban hành, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Th phải trả nợ cho chị Nguyễn Thị V số tiền cả gốc và lãi là 174.884.000đ (Một trăm bảy mươi tư triệu tám trăm tám mươi tư ngàn đồng), bà Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Th vắng mặt, tuy nhiên bà Th hiện đang chấp hành án tại Trại giam và có đơn đề nghị xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Th là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228 của BLTTDS.

Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì có đủ cơ sở xác định nội dung vụ kiện như sau: Tháng 4 năm 2015 và tháng 7 năm 2015 chị Nguyễn Thị V có gửi tiền tại bà Nguyễn Thị Th 02 lần với tổng số tiền là 150.000.000đ, với lãi suất 1%/1 tháng. Ngày 27/6/2016 chị V đã rút 10.000.000đ tiền gốc và 17.400.000đ tiền lãi. Từ tháng 6 năm 2016 đến nay chị V đã nhiều lần đến rút số tiền còn lại nhưng bà Th không cho. Nay chị V yêu cầu Tòa giải quyết buộc bà Th phải trả lại cho chị số tiền gốc là 140.000.000đ và tiền lãi tính theo lãi suất Ngân hàng quy định, thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2018 là 26 tháng. Quá trình giải quyết bà Th thừa nhận hiện còn nợ chị V số tiền 140.000.000đ và bà sẽ thu xếp để trả cho chị V. Riêng số tiền lãi, do hiện nay bà đang gặp khó khăn nên bà xin chị V đừng yêu cầu. Tuy nhiên quá trình giải quyết chị V không đồng ý và vẫn giữ nguyên yêu cầu bà Th trả cho chị V số tiền gốc là 140.000.000đ và tiền lãi tính theo lãi suất Ngân hàng quy định, thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2018.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị V về việc yêu cầu bà Th trả cho chị số tiền gốc 140.000.000đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đối với khoản tiền lãi Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh huyện Con Cuông thì mức lãi suất cho vay tối đa áp dụng từ tháng 6/2016 đến tháng 8/2018 là 11,5%/1 năm. Như vậy bà Th nợ chị V số tiền gốc 140.000.000đ, tiền lãi tính đến tháng 8/2018(Thời điểm chị V khởi kiện là 26 tháng). Cụ thể: 140.000.000đ x 11,5%/năm x 26 tháng : 12 tháng/1 năm = 34.884.000đ. Như vậy bà Th còn nợ chị V số tiền gốc là 140.000.000đ, tiền lãi là 34.884.000đ. Như vậy tổng số tiền bà Th nợ chị V cả gốc và lãi là 174.884.000đ nay cần buộc bà Th trả cho chị V đầy đủ.

Về án phí: Do yêu cầu của chị V được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 220, 227, khoản 3 Điều 228, 235, 241, 264, 267 BLTTDS; Điều 274, khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 463, khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V.

Buộc bà Nguyễn Thị Th phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị V số tiền như sau:

- Tiền gốc: 140.000.000 đồng

- Tiền lãi là: 34.884.000 đồng

Tổng số tiền cả gốc và lãi là 174.884.000đ (Một trăn bảy tư triệu tám trăm tám tư ngàn đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án hoàn trả cho chị Nguyễn Thị V số tiền 4.450.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0000129 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông ngày 13/12/2018; Bà Nguyễn Thị Th phải chịu 8.744.200đ (Tám triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn hai trăm đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ