vanban.org

Bản án 07/2018/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến về yêu cầu tính lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016. Xác nhận Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến còn nợ Ngân hàng TMCP Việt… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng VPBank kiện Công ty TNHH thương mại và dịch vụ H Tiến"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến.
  • Căn cứ chính? Luật doanh nghiệp; Điều 281 Bộ luật Dân sự; Điều 361 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 07 /2018/ KDTM-ST
Ngày 02/11/2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán sơ cấp - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Bình và ông Giáp Đức Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 02/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 16/2018/TLST-KDTM ngày 17/8/2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156c/2018/QĐST-DS ngày 24/9/2018, quyết định hoãn phiên tòa số 155/2018/QĐST-KDTM ngày 10/10/2018, giữa:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.

Trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Tuấn Anh – Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng và các ông (bà) Phạm Thu Hà + Ông Ma Quang Mạnh + Ông Phạm Văn Khánh – Cán bộ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng theo văn bản quỷ quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018 của Chủ tịch HĐQT và văn bản ủy quyền số 1450/2018/UQ-VPB ngày 26/7/2018. Văn bản ủy quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa số 2723/2018/UQ-VPB ngày 16/10/2018 cho bà Phạm Thị Kim Oanh. Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ – (Có mặt).

+ Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến (Công ty H Tiến) – Do ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1977. Chức vụ Giám đốc đại diện theo pháp luật – (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn Thanh Lương, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 – (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn Thanh Lương, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 – (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Thanh Lương, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang..

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 26/7/2018 và các bản tự khai tiếp theo, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng trình bầy:

Theo hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016, Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 29/3/2017 và các khế ước nhận nợ kèm theo, Công ty H Tiến vay vốn của VPBank với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Cụ thể như sau:

+ Khế ước nhận nợ số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016 với số tiền nhận nợ là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày 02/3/2016 đến ngày 02/3/2018 với lãi suất trong hạn 22,75%. Mức lãi suất này sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 29/6/2016, mức điều chỉnh lãi suất bằng lãi suất bán vốn của bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 15%/năm.

+ Khế ước nhận nợ số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017 số tiền nhận nợ 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Thời hạn vay 24 tháng, lãi suất vay trong hạn 22,2%/năm. Mức lãi suất này sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 29/6/2017. Mức điều chỉnh được xác định bằng lãi suất bán vốn của VPBank do Hội sở chính của VPBank tại thời điểm điều chỉnh áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 36 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 (+) biên độ 14%/năm.

- Biện pháp bảo đảm cho khoản tiền vay trên theo các hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 01/3/2016; Số 02/HĐBL ngày 01/3/2016; Số 290317-2624252-01-SME/HĐBL ngày 29/3/2017; Số 290317-2624252-02-SME/HĐBL ngày 29/3/2017; Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H đã đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty H Tiến trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: Trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của Công ty H Tiến với VPBank phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016; Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017 và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty H Tiến và VPBank bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.

- Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty H Tiến đã vi phạm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank từ ngày 25/11/2017. Do đó, VPBank đã chuyển toàn bộ khoản vay nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ. Tam tính đến ngày 02/11/2018 Công ty H Tiến còn nợ VPBank số tiền gốc là 486.000.000 đồng, tiền lãi 150.153.277 đồng và tiền phạt chậm lãi là 7.199.319 đồng. Tổng cộng 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng).

Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty H Tiến pH có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản tiền nợ trên. Nếu Công ty H Tiến không trả được thì đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H pH có nghĩa vụ trả nợ thay Công ty H Tiến toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng tín dụng trên và yêu cầu được tiếp tục tính lãi và phạt chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty H Tiến thanh toán hết nợ cho VPBank. Trong trường hợp Công ty H Tiến, Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty H Tiến, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H để thu hồi khoản nợ vay.

Trước phiên tòa hôm nay, đại diện cho Ngân hàng VPBank vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên và rút một phần yêu cầu khởi kiện về miễn toàn bộ lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016 và khế ước nhận nợ kèm theo với số tiền là 1.774.907 đồng.

* Tại bản tự khai ghi ngày 05/9/2018 bị đơn ông Nguyễn Văn C, đại diện cho Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến (Công ty H Tiến) trình bầy:

Ông đã được Tòa án thông báo về việc Ngân hàng Việt nam Thịnh Vượng khởi kiện Công ty H Tiến về việc nợ tiền của Ngân hàng. Tổng số tiền Công ty H Tiến còn nợ của Ngân hàng là 583.688.837 đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi bảy đồng) và lãi suất phát sinh tiếp theo. Ông thừa nhận do làm ăn gặp nhiều khó khăn nên Công ty chưa có tiền để trả cho Ngân hàng. Nay ông đồng ý trả toàn bộ số tiền gốc, lãi còn nợ tính đến ngày 19/6/2018 là 583.688.837 đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi bảy đồng), đồng ý trả tiền lãi phát sinh và phạt chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty H Tiến thanh toán hết nợ cho VPBank. Trong trường hợp Công ty không trả được thì ông cũng đồng ý dùng tài sản riêng của ông để thanh toán trả cho Ngân hàng mà không có ý kiến gì khác.

Trước phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn C đại diện cho Công ty H Tiến vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên và đồng ý với ý kiến của đại diện của Ngân hàng VPBank xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với Công ty H Tiến về miễn toàn bộ lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016 và khế ước nhận nợ kèm theo với số tiền là 1.774.907 đồng và tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm lãi mà Công Ty H Tiến còn nợ Ngân hàng VPBank tính đến ngày 02/11/2018 với tổng số tiền là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng) và nhất trí toàn bộ với các yêu cầu trên của Ngân hàng về cách tính lãi trong hạn, quá hạn và yêu cầu được tiếp tục tính tiền lãi phát sinh, về các nghĩa vụ trả nợ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn C trình bày: Về số tiền hiện công ty H Tiến do ông làm Giám đốc hiện còn nợ lại của Ngân hàng là 583.688.837 đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi bảy đồng). Nay ông đồng ý trả toàn bộ số tiền gốc, lãi còn nợ cho Ngân hàng VPBank trên và đồng ý trả tiền lãi phát sinh và phạt chậm trả đến ngày Công ty H Tiến thanh toán hết nợ cho VPBank. Trong trường hợp Công ty không trả được thì ông cũng đồng ý dùng tài sản riêng của ông để thanh toán trả cho Ngân hàng mà không có ý kiến gì khác.

Trước phiên tòa hôm nay với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên và nhất trí với ý kiến của đại diện của Ngân hàng VPBank xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với Công ty H Tiến về miễn toàn bộ lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016 với số tiền 1.774.907 đồng và tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm lãi mà Công Ty H Tiến còn nợ Ngân hàng VPBank tính đến ngày 02/11/2018 với tổng số tiền là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng) và nhất trí toàn bộ với các yêu cầu trên của Ngân hàng.

2. Bà Nguyễn Thị H: Tòa án đã nhiều lần đến tại gia đình bà Nguyễn Thị H để giao các văn bản tố tụng và làm việc với bà H. Phía bà H đã nhận các văn bản tố tụng, được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng bà H vẫn cố tình không hợp tác, không ký các biên bản nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của bà Nguyễn Thị H. Tại phiên toà hôm nay bà Nguyễn Thị H vắng mặt.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc giao các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng và gửi hồ sơ cho VKS về thời gian đều đảm bảo theo đúng quy định của luật tố tụng Dân sự.

- HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;

- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Nguyễn Văn C đều chấp hành đúng quy định của pháp luật; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn thị H không chấp hành đúng q uy định của pháp luật, quá trình Tòa án giải quyết không hợp tác và tại phiên tòa hôm nay bà H vắng mặt lần thứ hai.

+ Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh vượng, yêu cầu Công ty H Tiến pH có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng tính đến ngày 02/11/2018 với tổng số tiền gốc là 486.000.000 đồng, tiền lãi 150.153.277 đồng và tiền phạt chậm lãi là 7.199.319 đồng. Tổng cộng 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng)và lãi suất phát sinh tiếp theo. Trong trường hợp Công ty H Tiến không trả được thì ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H pH có nghĩa vụ trả nợ thay như hợp đồng bảo lãnh đã ký kết. Trường hợp Công ty H Tiến, Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành xác minh tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty H Tiến, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H để xử lý đảm bảo cho khoản nợ vay.

Về án phí: Công ty H Tiến pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.

+ Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các bên đương sự, HĐXX nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh vượng với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến là doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp. Mục đích vay tiền của Công ty H Tiến là để hoạt động kinh doanh cho Công ty, vì mục đích lợi nhuận của Công ty. Đây là mối quan hệ dân sự giữa pháp nhân với pháp nhân có đăng ký kinh doanh. Công ty H Tiến hoạt động do ông Nguyễn Văn C làm giám đốc có địa chỉ và cư trú tại huyện Lạng Giang, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh nên nguyên đơn làm đơn khởi kiện đến Tòa án. Đây là vụ kiện về tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Về thời hiệu khởi kiện: Công ty H Tiến vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho VPBank vào ngày 25/11/2017. Ngày 31/7/2018 Ngân hàng VPBank nộp đơn khởi kiện Công ty H Tiến tại Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo Điều 319 Luật thương mại năm 2005.

Xét hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016, Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 29/3/2017 và các khế ước nhận nợ kèm theo đã đáp ứng đủ điều kiện của chủ thể ký kết hợp đồng và nội dung trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật, nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp.

Về nội dung vụ kiện: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng khởi kiện Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến tính đến ngày 19/6/2018 còn nợ tổng 583.688.837 đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi bảy đồng) bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi và tiền phạt chậm lãi.

Tại thời điểm xét xử vụ án, ngày 02/11/2018, các bên thừa nhận tổng số nợ gốc vay còn lại là 486.000.000 đồng, tiền lãi 150.153.277 đồng và tiền phạt chậm lãi là 8.974.226 đồng. Tổng cộng 645.127.502 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa đã có đơn yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện miễn toàn bộ lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016 và khế ước nhận nợ kèm theo với số tiền tính đến ngày 02/11/2018 với số tiền là 1.774.907 đồng, số tiền phạt chậm lãi còn lại của hợp đồng 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017 là 7.199.319 đồng và tổng số tiền Ngân hàng VPBank yêu cầu Công ty H Tiến còn pH trả là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng). Kèm theo đơn khởi kiện Ngân hàng VPBank cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh VPBank; Giấy phép hoạt động Ngân hàng; Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018; Văn bản ủy quyền tham gia tố tụng; CMTND của người được ủy quyền; Hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016; Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017; Phụ lục hợp động số 01/PLHĐ ngày 29/3/2017; Khế ước nhận nợ; Hợp đồng bảo lãnh số 01-SME/HĐBL ngày 01/3/2016; Hợp đồng bảo lãnh số 02-SME/HĐBL ngày 01/3/2016; Hợp đồng bảo lãnh số số 290317-2624252-01-SME/HĐBL ngày 29/3/2017; Hợp đồng bảo lãnh số số 290317-2624252-02-SME/HĐBL ngày 29/3/2017.

Phía bị đơn Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến do ông Nguyễn Văn C là Giám đốc đại diện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đều thừa nhận các khoản nợ vay cùng các tài liệu chứng cứ do bên Ngân hàng VPBank cung cấp là đúng. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị H là một trong những người đã ký hợp đồng bảo lãnh cho các khoản tiền vay trên lại không hợp tác, cố tình lẩn tránh nên các bên không đạt được sự thương lượng như mong muốn.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016, Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 29/3/2017 và các khế ước nhận nợ kèm theo. Công ty H Tiến đã vay vốn của Ngân hàng VPBank theo hai khế ước nhận nợ với tổng số tiền vay là 1.000.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty H Tiến đã thanh toán một phần nợ gốc cho Ngân hàng và khoản tiền còn nợ gốc còn lại đã vi phạm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank từ ngày 25/11/2017. Do đó, VPBank đã chuyển toàn bộ khoản vay nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ tính đến ngày 02/11/2018 Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến còn nợ lại Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng bao gồm tiền nợ gốc là 486.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và quá hạn là 150.153.277 đồng và tiền phạt chậm lãi là 7.199.319 đồng. Tổng cộng 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng). Và tổng số nợ này đã được ông Nguyễn Văn C, Giám đốc Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến thừa nhận, chấp thuận việc tính lãi suất trong hạn, quá hạn của Ngân hàng theo đúng hợp đồng tín dụng mà ông đã ký kết và ông thừa nhận hiện Công ty H Tiền còn nợ lại của Ngân hàng VPBank với tổng số tiền như trên và đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng) và lãi suất phát sinh tiếp theo. Trong trường hợp Công ty H Tiến không trả được thì ông sẽ có nghĩa vụ trả nợ thay như hợp đồng bảo lãnh đã ký kết. Trường hợp Công ty không thanh toán được thì ông đồng ý cho Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thi hành các tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty H Tiến và của cá nhân người bảo lãnh để đảm bảo cho khoản nợ vay. Do vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010, HĐXX chấp sự thỏa thuận trên của các bên về tổng số tiền nợ.

+ Về yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, trường hợp Công ty H Tiến không thanh toán được cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H pH có trách nhiệm thanh toán trả nợ thay như hợp đồng bảo lãnh tín chấp đã ký kết. Trường hợp Công ty H Tiến, Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành xác minh phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty H Tiến, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H để xử lý đảm bảo cho khoản nợ vay.

HĐXX xét thấy: Hợp đồng tín chấp bảo lãnh Số 290317-2624252-01-SME/HĐBL ngày 29/3/2017; Số 290317-2624252-02-SME/HĐBL ngày 29/3/2017 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng với Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H, theo đó ông C, bà H đã đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty H Tiến trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: Trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của Công ty H Tiến với VPBank phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016; Hợp đồng cho vay số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017 và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty H Tiến và VPBank và đều là sự tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy việc thỏa thuận giữa các bên hoàn toàn phù hợp Điều 361; Điều 362 BLDS năm 2005 cần chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng VPBank.

Về án phí: Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 281; Điều 361; Điều 363; Điều 471; Điều 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 319 Luật Thương mại.

Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến về yêu cầu tính lãi phạt của hợp đồng số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016.

- Xác nhận Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 300116-2624252-01-SME ngày 01/3/2016 và hai khế ước nhận nợ số 300116-2624252-01-SME ngày 02/3/2016; Khế ước nhận nợ số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017, với số tiền nợ gốc còn lại là 486.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày 02/11/2018 là 150.153.277 đồng và tiền phạt chậm lãi của khế ước nhận nợ số 290317-2624252-01-SME ngày 29/3/2017 là 7.199.319 đồng. Tổng cộng cả gốc và các khoản tiền lãi là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng).

- Buộc Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền còn nợ là 643.352.595 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, năm trăm chín mươi lăm đồng).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ được số nợ trên cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng thì còn pH tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến không thanh toán được thì phía ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm thanh toán trả nợ thay như hợp đồng bảo lãnh số 290317-2624252-01-SME/HĐBL ngày 29/3/2017; Số 290317-2624252-02-SME/HĐBL ngày 29/3/2017. Trường hợp Công ty H Tiến, Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty H Tiến, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H để xử lý đảm bảo cho khoản nợ vay.

2. Về án phí: Công ty TNHH xây dựng Thương mại và dịch vụ H Tiến phải chịu 29.734.000 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng không phải chịu tiền án phí KDTM sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền đã nộp tạm ứng án phí 15.000.000 đồng tại biên lai thu số AA/2018/0006695 ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm iết công khai./.

Cỡ chữ