vanban.org

Bản án 07/2018/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 465, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 30, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủ…

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu, khởi kiện đòi nợ tiền với hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện. Buộc hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện phải trả nợ tiền cho Ngân hàng Thương mại trách nhiệm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngan hang - HKD Đàm Thị Bích"
  • Tòa quyết gì? Căn các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 465, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 30, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủ…
  • Căn cứ chính? Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2018/KDTM-ST.
Ngày: 28-11 - 2018.
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật.

Bà Tạ Thị Ngọc Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 06/2018/TLST- KDTM ngày 13 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu

khí Toàn cầu (GPBank).

Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật : Ông Phạm Huy Thông, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền GPBank: Ông Lương Minh Thắng, chức vụ: Giám đốc GP.Bank – chi nhánh Ba Đình. Ông Tạ Xuân Toản, chức vụ: Phụ trách phòng kinh doanh GB.Banhk chi nhánh Ba Đình; có mặt.

- Bị đơn: Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích.

Địa chỉ: Cụm 1, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Bà Đàm Thị Bích, sinh năm 1960 - chủ hộ; vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Hà Văn Hồng, sinh năm 1958; địa chỉ: cụm 1, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Hà Văn Cường, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Kim Thị Thủy, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu (GPBank) trình bày:

Ngày 22/7/2011 Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Ba Đình (nay là Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu - Chi nhánh Ba Đình) đã ký Hợp đồng tín dụng số 0381/2011/GPBBĐ/HĐ; Khế ước nhận nợ số 01.0381/2011/GPBBĐ/KƯ với Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích là đại diện với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 1.600.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng từ ngày 22/07/2011 đến 22/7/2014; mục đích vay: Bổ xung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đồ gỗ; lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần vào ngày 25 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên là 24%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo bằng lãi suất cho vay của GPBank tại thời điểm điều chỉnh.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: thửa đất số 340, tờ bản đồ số 06, diện tích 252m2 tại thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP481429, số vào sổ cấp giấy H00725 do UBND Huyện Đan Phượng Thành phố Hà Nội cấp ngày 25/06/2009 mang tên anh Hà Văn Cường.

Từ khi nhận nợ đến nay, Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là: 783.685.317 đồng nợ gốc và 305.314.674 đồng nợ lãi. Số tiền gốc và lãi còn lại Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không thực hiện thanh toán. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu đại diện Hộ kinh doanh đến làm việc để thanh toán khoản nợ nhưng Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không thực hiện được nghĩa vụ. Tính đến ngày 31/7/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích còn nợ tổng số tiền là: 2.209.661.845 đồng, trong đó nợ gốc là: 816.314.683 đồng; nợ lãi trong hạn: 220.134.984 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.173.212.178 đồng.

Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu khởi kiện yêu cầu Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích phải trả Ngân hàng tính đến ngày 31/7/2018 còn nợ tổng số tiền là: 2.209.661.845 đồng, trong đó nợ gốc là: 816.314.683 đồng; nợ lãi trong hạn: 220.134.984 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.173.212.178 đồng. Kể từ ngày 01/8/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0381/2011/GPBBĐ/HĐ ngày 22/7/2011 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trong trường hợp Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không thanh toán khoản nợ trên, Ngân hàng có quyền đền nghị cơ quan Thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để trả nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn là Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích là đại diện cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hà Văn Hồng, anh Hà Văn Cường, chị Kim Thị Thủy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc nên không có bản tự khai và Tòa án cũng không lấy được lời khai của bà Bích, ông Hồng, anh Cường, chị Thủy.

Tại biên bản xác minh của Tòa án với Công an xã Liên Hà, công an xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng thể hiện: Bà Đàm Thị Bích cùng chồng là ông Hà Văn Hồng; anh Hà Văn Cường cùng vợ là chị Kim Thị Thủy từ khoảng năm 2013 cho đến nay đã không có mặt tại địa phương. Gia đình bà Bích, anh Cường chuyển đi đâu Công an xã không biết được do gia đình không khai báo với Công an xã cũng như Công an xã không nhận được phiếu xác nhận thông tin của nơi gia đình bà Bích, anh Cường hiện nay đang sinh sống.

Tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Buộc Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích tạm tính đến ngày 31/7/2018 tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là: 2.209.661.845 đồng; từ ngày 01/8/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; trong trường hợp hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không thanh toán khoản nợ trên, Ngân hàng có quyền đền nghị cơ quan Thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để trả nợ cho Ngân hàng. Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích là đại diện cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hà Văn Hồng, anh Hà Văn Cường, chị Kim Thị Thủy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn trong vụ án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết tại Tòa án: bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại địa phương đã được Tòa án niêm yết công khai văn bản tố tụng để bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật nhưng đều vắng mặt.

Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng; các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 465, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu. Buộc Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích tạm tính đến ngày 31/7/2018 tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là: 2.209.661.845 đồng; từ ngày 01/8/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; trong trường hợp hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không thanh toán khoản nợ trên, Ngân hàng có quyền đền nghị cơ quan Thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để trả nợ cho Ngân hàng. Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu (có giấy phép kinh doanh), ký Hợp đồng tín dụng cho hộ kinh doanh Đàm Thị Bích (có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) vay tiền, mục đích vay tiền để bổ xung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đồ gỗ. Đã đến hạn trả nợ, hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không trả, đã vi phạm nghĩa vụ về việc trả nợ tiền vay. Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu hộ kinh doanh Đàm Thị Bích trả nợ tiền, vì vậy xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại, “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xác định tư cách tham gia tố tụng: Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu. Tại quyết định số 1304/QĐ-NHNN ngày 07/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc mua toàn bộ cổ phần và chuyển đổi Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí Toàn cầu thành Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu, vì vậy, xác định Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu là nguyên đơn trong vụ án, theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích, đại diện là bà Đàm Thị Bích đứng ra vay tiền với Ngân hàng, nhưng đã vi phạm nghĩa vụ về việc trả nợ tiền. Bà Đàm Thị Bích chủ hộ là bị đơn trong vụ án, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của hộ kinh doanh Đàm Thị Bích, theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Hà Văn Hồng là chồng bà Bích, cùng đứng vay vốn để kinh doanh. Anh Hà Văn Cường có vợ là Kim Thị Thủy đã dùng 252m2 đất thổ cư tại thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng để thế chấp với Ngân hàng đảm bảo khoản tiền vay của hộ kinh doanh Đàm Thị Bích. Vì vậy, Tòa án xác định ông Hồng, anh Cường, chị Thủy là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã niêm yết công khai văn bản tố tụng cho Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án tham gia hoà giải. Căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.

Xét yêu cầu của Ngân hàng: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự xuất trình, xác định: Ngày 22/7/2011 Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu và hộ kinh doanh Đàm Thị Bích đã ký hợp đồng tín dụng 0381/2011/GPBBĐ/HĐ với số tiền vay: 1.600.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ xung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đồ gỗ; lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần vào ngày 25 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên là 24%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo bằng lãi suất cho vay của GPBank tại thời điểm điều chỉnh. Cùng ngày, bà Đàm Thị Bích đã nhận đủ số tiền trên và ký vào khế ước nhận nợ số 01.0381/2011/GPBBĐ/KƯ, có đủ căn cứ để khẳng định ngày 22/7/2011 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích đã vay tiền của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu số tiền 1.600.000.000 đồng.

Về số tiền nợ gốc: Do bà Đàm Thị Bích không đến Tòa án nên không thể đối chiếu số tiền nợ với Ngân hàng. Căn cứ vào Bảng liệt kê quá trình trả lãi do ngân hàng cung cấp, có đủ căn cứ xác định, bà Đàm Thị Bích đã trả được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 783.685.317 đồng. Đã đến hạn trả nợ (ngày 22/7/2014) hộ kinh doanh Đàm Thị Bích đã không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền nợ lãi phát sinh. Vì vậy, Ngân hàng có quyền khởi kiện để đòi nợ, buộc hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu số tiền nợ gốc là 816.314.683 đồng

Về tiền lãi: Căn cứ vào Bảng liệt kê quá trình trả tiền lãi do Ngân hàng cung cấp, có đủ căn cứ xác định bà Đàm Thị Bích đã trả được số tiền lãi cho Ngân hàng, tính đến ngày 31/7/2018 được số tiền là 305.314.674 đồng, từ đó đến nay hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không trả cho Ngân hàng thêm được đồng tiền lãi nào.

Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu tổng số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày ngày 31/7/2018 là: 2.209.661.845 đồng, trong đó nợ gốc là: 816.314.683 đồng; nợ lãi trong hạn: 220.134.984 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.173.212.178 đồng. Kể từ ngày 01/8/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0381/2011/GPBBĐ/HĐ ngày 22/7/2011 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền nợ gốc.

. Tài sản đảm bảo: Khi vay tiền anh Hà Văn Cường là con trai bà Bích ông Hồng có thế chấp tài sản là quyền sử dụng diện tích 252m2 đất cùng tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 06, thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP481429, số vào sổ cấp giấy H00725 do UBND Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội cấp ngày 25/06/2009 mang tên Hà Văn Cường. Ngày 22/7/2011 hai bên có làm Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba, số công chứng: 110314 quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD, do văn phòng công chứng Đại Việt, Thành phố Hà Nội chứng thực. Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản găn liền với đất ngày 22/7/2011 đã được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đan Phượng (nay là Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Đan Phượng) chứng nhận ngày 22/7/2011.

Thực tế trên thửa đất dùng để thế chấp với Ngân hàng có 01 lán xưởng làm bằng tôn phủ kín thửa đất, trong lán xưởng có xây 02 gian nhà nhỏ lợp proximang, 01 gian buồng trần thạch cao, bếp, công trình phụ. Toàn bộ lán xưởng, nhà, công trình phụ được xây dựng trước khi thế chấp. Từ năm 2013 cho đến nay anh Cường, chị Thủy (vợ anh Cường) cùng các con đã không có mặt tại địa phương. Hiện tại, lán xưởng đang bỏ không, không có người quản lý, vì vậy xác định toàn bộ tài sản (252m2 đất và tài sản gắn liền với đất) là của anh Cường, chị Thủy. Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì toàn bộ diện tích 252m2 đất cùng tài sản gắn liền với đất thửa đất số 340, tờ bản đồ số 06, thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25/06/2009 mang tên Hà Văn Cường đều là tài sản thế chấp để bảo đảm khoản tiền vay của hộ kinh doanh Đàm Thị Bích với Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí toàn cầu.

Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích không trả toàn bộ các khoản tiền nợ trên cho Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu, thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội kê biên, phát mại toàn bộ diện tích 252m2 đất cùng tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 06, thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP481429, số vào sổ cấp giấy H00725 do UBND Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội cấp ngày 25/06/2009 mang tên Hà Văn Cường, để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

. Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của Ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu được chấp nhận. Vì vậy, Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và sẽ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 465, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 30, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu, khởi kiện đòi nợ tiền với hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện.

2. Buộc hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện phải trả nợ tiền cho Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu, tổng số tiền nợ tính đến ngày 31/7/2018 là: 2.209.661.845 đồng, trong đó nợ gốc là: 816.314.683 đồng; nợ lãi trong hạn: 220.134.984 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.173.212.178 đồng.

Kể từ ngày 01/8/2018 Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích là đại diện tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0381/2011/GPBBĐ/HĐ ngày 22/7/2011 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền nợ gốc.

Nếu hộ kinh doanh Đàm Thị Bích, do bà Đàm Thị Bích làm đại diện không trả cho Ngân hàng số tiền nợ trên, thì Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội kê biên, phát mại toàn bộ diện tích 252m2 đất cùng tài sản gắn liền với đất tại thửa số 340, tờ bản đồ số 06, thôn Thượng Trì, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP481429, số vào sổ cấp giấy H00725 do UBND Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội cấp ngày 25/06/2009 mang tên Hà Văn Cường, để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

3. Án phí:

- Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện phải chịu 76.193.000 đồng (bảy mươi sáu triệu một trăm chín mươi ba nghàn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.700.000 đồng (Hai mươi chín triệu bảy trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010148 ngày 13/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

Án xử công khai, Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Hộ kinh doanh Đàm Thị Bích do bà Đàm Thị Bích làm đại diện làm đại diện, ông Hà Văn Hồng; anh Hà Văn Cường cùng vợ là chị Kim Thị Thủy có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ