- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T - Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôn…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2018/HSST Ngày: 06/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ, bà Lê Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2018/TLST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1991; nơi sinh: Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: Số 15/15 đường H, Phường X, TP B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Quốc T, hiện sinh sống tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bà Nguyễn Thị T (Đã chết); bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh em; vợ là Nguyễn Thị Xuân O, sinh năm 1991, hiện đang sinh sống tại Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt).
Bị hại:
1. Cháu Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 2012, (Đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Thành Th, sinh năm 1976, (Là bố cháu Th); trú tại: Số 138A đường Ng, phường L, TP B, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng mặt);
2. Chị Nguyễn Như T, sinh ngày 13/02/1999; trú tại: Số 882/17/11 thôn T, xã L, TP B, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng mặt);
Bị đơn dân sự: Công ty TNHH TL;
Địa chỉ: Số 15/15 đường H, Phường X, TP B, tỉnh Lâm Đồng;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1966;
Chức vụ: Giám đốc, (Có mặt).;
Trú tại: Số 24 đường L, Phường X, TP B, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh T có giấy phép lái xe hạng C, là lái xe hợp đồng của Công ty TNHH TL (Sau đây viết tắt là Công ty TL), do ông Nguyễn Thành L làm giám đốc. Vào cuối năm 2016 chiếc xe ô tô biển số 49X-7750 của Công ty TL bị hư hỏng, được kéo từ huyện Bảo Lâm về gara TN tại địa chỉ: Hẻm 151 đường H, Phường X, thành phố B để sửa chữa. Sau khi sửa chữa xong, vào chiều ngày 08/7/2017 Trần Minh T tự ý đến gara TN lấy xe mang đi đăng kiểm. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường H, theo hướng từ đường Ng đến đường Ph; khi xe chạy đến trước giao lộ đường H và đường H1, thuộc địa phận Phường X, thành phố B, T quan sát thấy phía trước cùng chiều có một số xe mô tô chạy sát lề đường bên phải theo hướng lưu thông của T. Lúc này T điều khiển xe ô tô 49X-7750 vượt lên và cho xe chuyển hướng về đường Hoàng Văn Thụ. Do không chú ý quan sát các phương tiện chạy cùng chiều nên xe của T đã va chạm với xe mô tô biển số 49K1-005.46 do chị Nguyễn Như T điều khiển, chở cháu Nguyễn Ngọc Th ngồi phía sau, làm cho xe mô tô 49K1-005.46 cùng chị T và cháu Th bị cuốn vào gầm xe ô tô 49X-7750. Hậu quả làm cháu Th tử vong, chị T bị gãy xương cẳng chân trái, gãy xương ngón tay cái bàn tay phải, xe mô tô 49K1-005.46 bị hư hỏng. Sau khi gây tai nạn bị cáo T đã đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định tại giao lộ giữa đường H và đường H1, thuộc địa bàn Phường X, thành phố B, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Mặt đường được trải nhựa, hơi dốc lên về phía đường H1, trong đó mặt đường H rộng 9,5m, mặt đường H1 rộng 10,5m; qua khám nghiệm hiện trường xác định các vị trí, dấu vết như sau:
Số 01 là điểm đầu vết cày xước mặt đường do xe mô tô 49K1-005.46 để lại, kéo dài đến vị trí xe mô tô đổ tại hiện trường, có chiều hướng từ đường H đi đường H1, dài 04m. Số 01 cách mép vạch sơn dành cho người đi bộ của đường H1 là 2,8m, cách mép vạch sơn dành cho người đi bộ của đường H là 5,35m. Cách điểm giao nhau giữa đường H và đường H1 là 1,65m.
Số 02 là vị trí xe ô tô 49X-7750 đỗ tại hiện trường sau tai nạn, đầu xe chếch về bên trái theo hướng từ đường H đi đường H1. Hai bánh trước của xe ô tô dừng lại ngay vạch sơn dành cho người đi bộ trên đường H1. Tâm đầu trục bánh sau bên trái xe ô tô cách điểm giao nhau giữa đường H và H1 là 1,6m; cách điểm đầu vị trí số 01 là 1,1m.
Số 03 là vị trí xe mô tô 49K1-005.46 đổ tại hiện trường sau tai nạn; xe đổ nghiêng sang bên phải, nằm dưới gầm xe ô tô 49X-7750. Tâm trục bánh sau và tâm trục bánh trước cách điểm giao nhau giữa đường H và đường H1 lần lượt là 04m và 4,9m.
Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 245/KLPY, ngày 17/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng thì nguyên nhân cháu Nguyễn Ngọc Th chết do suy hô hấp - trụy tim mạch cấp, trên tử thi bị đa chấn thương (chấn thương ngực-bụng tràn máu khoang ngực và ổ bụng) do tai nạn giao thông.
Theo biên bản giám định kỹ thuật xe ô tô 49X-7750, ngày 14/8/2017 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Lâm Đồng thì xe trên không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ từ ngày 28/4/2012.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo T cùng với công ty TNHH TL đã bồi Thường cho gia đình cháu Nguyễn Ngọc Th số tiền 50.000.000đ; bồi thường cho chị Nguyễn Như T chi phí điều trị thương tích và sửa chữa xe mô tô là 50.000.000đ. Chị T đã có đơn từ chối giám định thương tích và xin giảm nhẹ cho bị cáo. Anh Nguyễn Thành Th là bố cháu Th cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS, ngày 09 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Bị cáo Trần Minh T khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, bị cáo thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào ngày 08/7/2017 bị cáo T điều khiển xe ô tô biển số 49X-7750 lưu thông trên đường Hà Giang theo hướng từ đường Ng đến đường Phan Bội Châu. Khi xe chạy đến giao lộ giữa đường H và đường H1 thuộc địa phận Phường X, thành phố B thì bị cáo đã cho xe chuyển hướng sang đường Hoàng Văn Thụ; do không chú ý quan sát nên xe của bị cáo đã va vào xe mô tô biển số 49K1-005.46 do chị Nguyễn Như T điều khiển chạy cùng chiều, chở cháu Nguyễn Ngọc Th ngồi phía sau. Hậu quả làm cháu Th bị tử vong, chị T bị gãy xương cẳng chân trái, gãy xương ngón tay cái bàn tay phải, xe mô tô 49K1-005.46 bị hư hỏng. Đối chiếu lời khai bị cáo, lời khai người bị hại (Cháu T), nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999.
Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo; sau tai nạn đã đầu thú và cùng chủ xe tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đại diện người bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa trong vụ tai nạn này thì người bị hại là chị T cũng có một phần lỗi, đó là điều khiển xe đi vào giao lộ mà không giảm tốc độ cần thiết để đảm bảo an toàn, không có Giấy phép lái xe theo qui định. Qua xem xét hình ảnh trích xuất từ camera, trước khi xảy ra tai nạn thì xe của chị T chạy cùng chiều (ở phía bên phải) xe của bị cáo và rơi vào khoảng mù mà qua gương chiếu hậu thì bị cáo không thể quan sát thấy, đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Vì những lẽ trên cần áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét bị cáo có việc làm và nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là phù hợp.
Trong vụ án này, ngoài việc cháu Nguyễn Ngọc Th bị chết còn có chị Nguyễn Thị Như T bị thương, tuy nhiên chị T đã có đơn từ chối giám định thương tích nên không có cơ sở xử lý đối với bị cáo về hành vi này.
Đối với công ty TNHH TL, là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 49X-7750 đã hết thời hạn kiểm định nhưng đã đưa vào tham gia giao thông gây tai nạn. Tuy nhiên vào ngày 08/7/2017 thì bị cáo T đã tự ý đi nhận xe từ gara, ông Nguyễn Thành L (là giám đốc công ty) không giao xe cho bị cáo T, vì vậy không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông L trong vụ án này.
Đối với hành vi đưa chiếc xe ô tô không đủ điều kiện an toàn kỹ thuật tham gia giao thông của bị cáo T, nhưng thấy rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn không phải do lỗi an toàn kỹ thuật, vì vậy Cơ quan điều tra đã không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T về hành vi này là phù hợp.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 02 chiếc xe liên quan đến tai nạn cho chủ sở hữu nên không đề cập đến. Riêng Giấy phép lái xe ô tô của bị cáo T hiện đang tạm giữ; căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T cùng với công ty TNHH TL đã bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Ngọc Th và chị Nguyễn Như T. Chị T và anh Nguyễn Thành Th là bố cháu Th không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập đến.
Trong quá trình khởi tố điều tra, kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố bị cáo ra trước tòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã nghiêm túc thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999;
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Trần Minh T.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Người tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |