- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ c¸o Trần Công T ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2018/HS-ST Ngày: 30-01-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bể
2. Bà Quách Thị Anh Thơ.
- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Công T, sinh ngày 13/3/1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T và bà Bùi Thị H (Đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12 sau đó ở nhà lao động tự do; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/10/2017 đến ngày 28/10/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/10/2017, T đi một mình sang xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình gặp và mua 01 gói ma túy đá của một người đàn ông tên là T (không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể) với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T đi xe ôm đến quán Karaokê Bảo Ngọc thuộc địa phận thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình, mục đích để sử dụng ma túy. Khi đến trước cửa
-1
quán Karaokê thì bị Công an huyện H phát hiện bắt quả tang Trần Công T có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt màu trắng. T khai nhận đó là ma túy đá, mục đích để sử dụng. Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 01 gói ma túy trên, ngoài ra còn thu giữ, quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 đã cũ và số tiền 4.206.000 đồng; khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Công T, Công an huyện H thu giữ 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Công T.
Bản kết luận giám định số 416/KLGĐ-PC54 ngày 26/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng là 1,0386gam.
Bản cáo trạng số 08/2018/KSĐT ngày 16-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS) năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Công T như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 194 điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Công T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Công T bị nghiện ma túy, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung với hình thức phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 BLHS: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 416/KLGĐ – PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình bên trong có ma túy, loại Methamphetamine; Trả lại bị cáo Trần Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Công T và số tiền 4.206.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án; bị cáo Trần Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Công T nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
-2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo T: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Công T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/10/2017; Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 16 giờ 35 phút ngày 25/10/2017; Bản kết luận giám định số 416/KLGĐ-PC54 ngày 26/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người làm chứng: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966, trú tại thôn Bùi Minh, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình và anh Đinh Thế T, sinh năm 1984, trú tại thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình. Bị cáo T đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ ngày 25/10/2017, tại khu vực trước cửa quán Karaokê Bảo Ngọc thuộc địa phận thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình; Trần Công T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,0386 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Công T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 01-01-2018, nhưng đến thời điểm xét xử bị cáo, Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 thì tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999, do đó, để đảm bảo tính có lợi cho bị cáo theo quy định tại 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 để xét xử đối với bị cáo.
XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o Trần Công T thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhµ N íc về c¸c chÊt ma
-3
tóy. Hµnh vi cña bÞ c¸o cßn lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp giật tài sản ….
Xét thân nhân của bị cáo, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị c¸o Trần Công T không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 52 BLHS năm 2015, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai b¸o thµnh khÈn nªn ® îc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51 BLHS năm 2015, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.
Về nguồn gốc ma túy, Trần Công T khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/10/2017, bị cáo mua 01 gói ma túy đá của một người đàn ông tên là T (không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể) với giá 300.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: Bị cáo Trần Công T là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: 0,7820gam Methamphetamine mẫu gửi giám định và bao gói trong bao niêm phong số 416/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Công T và số tiền 4.206.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo Trần Công T, nhưng tiếp tục quản lý số tiền 4.206.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyªn bè: BÞ c¸o Trần Công T ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
2. ¸p dông khoản 1 Điều 249 ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 BLHS 2015.
3. Xö ph¹t bị cáo Trần Công T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 25/10/2017.
4. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46 BLHS 2015.
-4
4.1 Tịch thu để tiêu huỷ: 0,7820gam Methamphetamine mẫu gửi giám định và bao gói trong bao niêm phong số 416/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
4.2 Trả lại bị cáo Trần Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia1280 màu đen đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Công T và số tiền 4.206.000 đồng (bốn triệu hai trăm linh sáu nghìn đồng), nhưng tiếp tục quản lý số tiền 4.206.000 đồng để đảm bảo thi hành án (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
5. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; BÞ c¸o Trần Công T ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
BÞ c¸o Trần Công T cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
* Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
ơ
- VKSND huyện H;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Chi cục THADS huyện H;
(đã Ký)
- Những người tham gia tố tụng;
- Công an huyện H;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Nhàn TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƢNG HÀ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI BÌNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
[ơ
Hưng Hà, ngày 30 tháng 01 năm 2018
-5
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
* Với Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bể và bà Quách Thị Anh Thơ.
Căn cứ vào các điều 235, Điều 264 của bộ luật tố tụng hình sự;
Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án vụ án hình sự đối với bị cáo:
Trần Công T, sinh ngày 13/3/1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
1.Về tội danh:Tuyªn bè bÞ c¸o Trần Công T ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
Kết quả biểu quyết 3/3.
2.Về điều luật áp dụng: ¸p dông khoản 1 Điều 249 ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 BLHS 2015.
Kết quả biểu quyết 3/3.
3.Về hình phạt: Xö ph¹t bị cáo Trần Công T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 25/10/2017.
Kết quả biểu quyết 3/3.
4.Về các vấn đề khác: VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46 BLHS 2015.
Tịch thu để tiêu huỷ: 0,7820gam Methamphetamine mẫu gửi giám định và bao gói trong bao niêm phong số 416/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
Trả lại bị cáo Trần Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia1280 màu đen đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Công T và số tiền 4.206.000 đồng (bốn triệu hai trăm linh sáu nghìn đồng), nhưng tiếp tục quản lý số tiền 4.206.000 đồng để đảm bảo thi hành án (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; BÞ c¸o Trần Công T ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
-6
Kết quả biểu quyết 3/3.
Biên bản đã được thông qua tại phòng nghị án vào hồi 09 giờ 15 phút cùng ngày. Các Hội thẩm nhân dân
| -7 | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |