- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T và Đoàn Kim Nhất ly hôn tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207,
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
Số: 07/2018/HNGĐ-ST Ngày: 02/04/2018 |
TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M QUẬN D Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh ch p ly hôn, nuôi con chung NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D - THÀNH PHỐ H I PHÒNG - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ to phiên toà: Ông Vũ Quang Trung. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Trần Quang Thương Bà Tạ Thị Hương - hư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân quận D, - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên. năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuận, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu T, phường T, quận D, Hải Phòng. Có mặt - Bị đơn: Anh Đoàn Kim N, sinh năm 1984; nơi cư trú ở: Khu T, phường T, quận D, Hải Phòng.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2017, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Kim N xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận D, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới, chị và anh N chung sống
tại khu T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do thời gian chị mang thai, anh N có quan hệ b t chính và có con với người phụ nữ khác, không còn sự quan tâm tới chị và các con. Mặt khác, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh N còn đánh chị. Từ cuối năm 2014 đến nay, chị và anh N đã sống ly thân. Nay chị th y tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Đoàn Thị L, sinh ngày 29/7/2010 và Đoàn Thị Kim N, sinh ngày 12/10/2012, hiện hai con đang ở với chị. Khi ly hôn, chị nhận nuôi cả hai con. V n đề c p dưỡng nuôi con, hai vợ chồng tự thỏa thuận. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Toà án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N không cung c p lời khai cũng như không lên Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị T. Tại biên bản ghi lời khai của ông Hoàng Kim D là bố đẻ anh N xác định: Các văn bản tố tụng tòa án gửi cho anh N, ông đã nhận và thông báo lại cho anh N nhưng anh N không về để giải quyết việc ly hôn với chị T, thình thoảng anh N vẫn về qua nhà rồi đi ngay. Ông cũng xác định chị và anh N sống ly thân nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn chính là do anh N đã có quan hệ với người phụ nữ khác và đã có con riêng. Tại biên bản xác minh ngày 09/01/2018, tổ trưởng tổ dân phố khu T, phường T, quận D cũng xác định: Chị T và anh N trong quá trình chung sống tại khu dân cư có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh N có quan hệ b t chính với người phụ nữ khác đã có con chung. Hiện tại chị Tvà anh N đã sống ly thân nhau, thỉnh thoảng anh N vẫn về nhà. Tại phiên tòa hôm nay, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị ly hôn anh N. Về con chung, do hai con đang ở với chị nên chị tiếp tục có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh N phải đóng góp nuôi con. Về tài sản chung: chị và N tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc ch p hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về con chung: Ch p nhận yêu cầu của chị T, giao cả hai con là Đoàn Thị L, sinh ngày 29/7/2010 và Đoàn Thị Kim N, sinh ngày 12/10/2012 cho chị T tiếp tục nuôi, v n đề c p dưỡng nuôi con do vợ chồng tự thỏa thuận. Về tài sản chung vợ chồng, không yêu cầu nên không xem xét. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Tcó đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết ly hôn với anh N cư trú tại phường T, quận D, Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng tân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng. [1] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Đoàn Kim N đã được Tòa án nhân dân quận D đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh N cố tình vắng mặt không đến Tòa án để giải quyết nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ N không có lý do. Do đó, Tòa án đã hoãn phiên tòa, n định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 02/4/2018 và niêm yết quyết định hoãn phiên tòa đối với anh N nhưng tại phiên tòa hôm nay anh N vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo thủ tục chung. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Kim N xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật hôn nhân và gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống chị Tvà anh N phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh N có quan hệ b t chính và có con với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâ , chă sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa Tkhác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tha gia các ho t động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Như vậy, có thể th y, anh N đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm nghiêm nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn anh N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên cần ch p nhận. [4] Về v n đề con chung: Hiện nay hai con chung là Đoàn Thị L, sinh ngày 29/7/2010 và Đoàn Thị Kim N, sinh ngày 12/10/2012, đang ở với chị T, cháu L có nguyện vọng ở với mẹ, chị T có công việc và thu nhập ổn định. Yêu cầu của chị T đề nghị nhận nuôi hai con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; phù hợp với thực tế, với nguyện vọng các cháu và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung. Vì vậy, cần giao cả hai con chung cho chị T nuôi dưỡng. V n đề c p dưỡng nuôi con, do chị T và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị T không không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. [6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [7] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh N được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Kim N. 2. Về con chung: Giao hai con là Đoàn Thị L, sinh ngày 29/7/2010 và Đoàn Thị Kim N, sinh ngày 12/10/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. V n đề c p dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn. 3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0014027 ngày 09 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. 4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đoàn Kim N vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.
Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND quận D; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận D; - UBND phường T, quận D, HP; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌ PHIÊN TÒ Vũ Quang Trung |