vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc “ly hôn, nuôi con”

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Nguyễn Ngọc V. Về con chung: Bà T trực tiếp nuôi Nguyễn B, sinh ngày 09/8/2012, ông V trực tiếp nuôi Nguyễn Đ, sinh ngày 03/5/2006 đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Ghi nhận tự nguyện của bà T, ông V về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T+Nguyễn Ngọc V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc “ly hôn, nuôi con”
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26-3-2018
V/v “ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng- Ông Lê Văn Công

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án thụ lý số: 327/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2017 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2017/QĐST-DS ngày 01/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982;

Trú tại: khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1978;

Trú tại: khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(ông V vắng mặt, bà T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của bà Nguyễn Thị T tại phiên tòa:

Bà T và ông Nguyễn Ngọc V chung sống với nhau từ năm 2004, đăng ký kết hôn vào ngày 13/04/2004 tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã (nay là thành phố) Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông V thường xuyên đánh đập bà không có lý do. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Bà nhận thấy mục đích hôn nhân là yêu thương và chăm sóc xây dựng cuộc sống vợ chồng không đạt được. Đề nghị Tòa án thành phố Bà Rịa giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đ, sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn B, sinh ngày 09/8/2012. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn B và giao con chung Nguyễn Đ cho ông V nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, hai bên không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc V có lời khai tại hồ sơ nhƣ sau:

Ông Vđồng ý với bà Tvề thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống ở địa chỉ khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, đôi khi có những mâu thuẫn xảy ra nhưng vợ chồng vẫn hòa giải được. Ông thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa thật sự trầm trọng, vẫn có thể đoàn tụ với nhau để nuôi dạy con cái. Bà T yêu cầu ly hôn ông không đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đ, sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn B, sinh ngày 09/8/2012. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn ông đồng ý sẽ nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đ và giao con chung Nguyễn B cho bà T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, hai bên không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán đã thụ lý vụ án và tiến hành các bước tố tụng đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Ngọc V, ông V cư trú tại phường L, thành phố Bà Rịa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa. Ông V vắng mặt lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu ly hôn và nuôi con của bà Nguyễn Thị T thấy rằng: Bà T và ông V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Theo bà T trình bày thì bà không còn tình cảm yêu thương đối với ông V bởi ông V thường hay đánh đập bà không có lý do chính đáng. Bà T đã tự ý ra sống riêng từ năm 2016 cho đến nay. Về phía ông V cho rằng vợ chồng hạnh phúc bình thường nhưng cho đến nay ông V không có thiện chí hàn gắn và vợ chồng vẫn không về sống cùng nhau được. Bà T lại cương quyết ly hôn. Cho thấy cuộc sống tình cảm vợ chồng đã không hạnh phúc, không còn muốn tiếp tục xây dựng gia đình cùng nhau. Do đó cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà T.

Bà T và ông V có hai con chung Nguyễn Đ, sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn B, sinh ngày 09/8/2012, hiện cháu B đang sống cùng với bà T, cháu Đ đang sống cùng ông V và có nguyện vọng sống với ông V. Ông V đồng ý nuôi cháu Đ và giao cháu B cho bà T, hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận thỏa thuận của các bên về việc nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, cả bà T và ông V đều không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc “ly hôn, nuôi con”

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Nguyễn Ngọc V.

Về con chung: Bà T trực tiếp nuôi Nguyễn B, sinh ngày 09/8/2012, ông V trực tiếp nuôi Nguyễn Đ, sinh ngày 03/5/2006 đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Ghi nhận tự nguyện của bà T, ông V về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực trục tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi quyền nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008603 ngày 04/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2018), đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ