vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều H được ly hôn với ông Lương Minh H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
TP. CẦN THƠ
Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày 01/02/2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Việt Thành

2/ Ông Đỗ Trọng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Tô Nguyễn Ngọc Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 313/2017/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXX-ST ngày 11/01/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1989. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận B, thành phố C

*Bị đơn: Ông Lƣơng Minh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận B, thành phố C

Nguyên đơn có mặt, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều H trình bày: ông bà tự nguyện tới tiến quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mặc dù vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về quan hệ hôn nhân: xin ly hôn với ông Lương Minh H.

Về con chung: ông bà có một con chung tên Lương T(nam), sinh ngày 26/02/2012. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lương Minh H, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông H không đến dự. Tòa án tiến hành niêm yết thông báo xét xử vắng mặt ông H theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện ban đầu. Phía bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ, do ông H và bà H đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin ly hôn và nuôi con chung là phù hợp, đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét quan hệ pháp luật đây là vụ án xin ly hôn được pháp luật điều chỉnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Tòa án triệu tập ông Lương Minh H nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án niêm yết thông báo xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, bà H và ông H tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Bà H cho rằng bà và ông H đã có thời gian chung sống vợ chồng giữa ông bà có nhiều mâu thuẫn, quan điểm sống không hợp nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà cương quyết xin ly hôn.

Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện , tiến bộ, các thành viên trong gia đình có sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau để cù ng xây dự ng hạ nh phú c gia đì nh , giữa bà H và ông H đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Ông H không đến dự theo giấy triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông, đồng thời cho thấy rằng ông không còn quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân với bà H. Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa vợ chồng ông H và bà H không đạt được, nên bà H yêu cầu xin ly hôn với ông H là có sơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: con chung tên Lương T(nam), sinh ngày 26/02/2012. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, cha mẹ đều có trách nhiệm chăm lo, nuôi dạy con chung như nhau, nhưng do cháu Bảo sống gần mẹ từ trước đến nay, để đảm bảo sự sinh hoạt và học tập ổn định của cháu T nên việc tiếp tục giao con chung cho mẹ nuôi dưỡng theo yêu cầu của bà H là hợp lý.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H xác định là không có nhưng do vắng mặt ông H nên Tòa án không giải quyết, nếu sau này đương sự có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Về á n phí : Bà H tự nguyện chuyển tiền đã nộp tạm ứng án phí thành á n phí hôn nhân sơ thẩ m nên Tòa ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 28, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Điều 51,56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều H được ly hôn với ông Lương Minh H

- Về con chung: giao con chung tên Lương T(nam), sinh ngày 26/02/2012 cho bà H trực tiếp nuôi con chung và không buộc ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung : Tách thành vụ án khác nếu đương sự có tranh chấp.

- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 008605 ngày 04/10/2017 thành án phí hôn nhân sơ thẩm. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo.

Cỡ chữ