vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Vì Văn T.

Về con chung: Giao cháu Vì Thị C L, sinh ngày 16/10/2009 cho chị Lường Thị L chăm sóc giáo dục, đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vì Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị L, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con, không ai có quyền ngăn cản. Về tài sản chung: Tạm giao T bộ tài sản gồm: 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án L- T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Vì Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HNGĐ – ST.
Ngày: 19 tháng 4 năm 2018.
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mùi Văn Huấn.

2. Ông Tráng Á Lứ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2017/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2017 về việc Xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/ QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị L. Sinh năm 1987.

Địa chỉ: Bản B, xã Q M, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vì Văn T. Sinh năm 1984.

Địa chỉ: Bản B, xã Q M, huyện V H, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Các đương sự đều tạm trú: Bản C B, xã M T, huyện V H, tỉnh Sơn La.

Người có QLNVLQ: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh M C, Phòng Giao dịch T N, do ông Trần Huy T , Giám đốc là đại diện. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Lường Thị L: Chị và anh Vì Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã M T, huyện V H, tỉnh Sơn La. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, anh T thường xuyên sa đà, rượu chè, cờ bạc không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Anh T vay nợ nhiều người không có khả năng trả nợ. Mặc dù đã khuyên can, đồng viên nhiều, nhưng anh T không thay đổi, thường bỏ nhà trốn nợ. Cuộc sống chung của vợ chồng không được cải thiện, chị và anh T đã ly thân được hai năm. Nay tình cảm đã thật sự không còn, không thể hàn gắn được nữa. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn anh T.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị sinh được một con chung: Cháu Vì Thị C L, sinh ngày 16/10/2009. Hiện cháu L đang được chị L chăm sóc, giáo dục. Nếu ly hôn, chị đề nghị được quyền nuôi cháu đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Anh chị có một số tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave, BKS 26G1 – 034.00, đăng ký mang tên Vì Văn T; 01 tủ lạnh hiệu Sanyo; 01 tivi hiệu Sony ; 01 mảnh đất rộng 2.930m2 có dựng 01 ngôi nhà gỗ một gian, lợp tôn mua của ông Hà Văn T với giá 90.000.000 đồng; ngoài ra không còn tài sản gì đáng giá. Anh Vì Văn T hiện đang không có mặt tại phiên tòa. Do vậy, đề nghị HĐXX xem xét tạm giao T bộ số tài sản trên cho chị quản lý. Anh T có thể khởi kiện việc chia tài sản chung trong vụ án khác.

- Về nợ chung: Anh chị có vay Ngân hàng NNPTNN chi nhánh M C, Phòng Giao dịch T N số tiền tính đến ngày 19/4/2018 cả gốc và lãi là 86.444.297 đồng. Số nợ này chị vẫn trả theo định kỳ bằng lương tháng, đề nghị HĐXX xem xét cho chị tiếp tục trả khoản nợ chung trên đây.

Cuối cùng, nguyên đơn đề nghị HĐXX xem xét cho chị được ly hôn anh Vì Văn T, được nuôi con chung, được tạm quản lý tài sản chung và trả nợ chung.

- Bị đơn, anh Vì Văn T mặc dù không thông báo vắng mặt tại địa phương, đã được Tòa án nhiều lần triệu tập và tiến hành các thủ tục cần thiết. Nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng NNPTNT M C, Phòng Giao dịch T N cho rằng chị Lường Thị L đứng tên vay Ngân hàng, theo hợp đồng vay thì anh Vì Văn T ký tên là người thừa kế. Chị Lường Thị L là người trả lãi định kỳ từ khoản lương hàng tháng. Nay chị Lường Thị L xin ly hôn, nhất trí với việc đề nghị của chị L được tiếp tục trả nợ chung đối với Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 19/4/2018 là 86.444.297 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V H phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng trong thụ lý, giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị L và anh T ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện, xử cho chị L được ly hôn anh T, được nuôi con chung, tiếp tục trả nợ chung và chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Vì Văn T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì bất đồng quan điểm, không cùng nhau chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dạy con. Anh T ăn chơi sa đà, cờ bạc, nợ nần chồng chất, bỏ bê công việc gia đình. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lường Thị L.

Về con chung: Anh T thường xuyên bỏ nhà, không quan tâm chăm sóc vợ con. Do đó, chấp nhận đề nghị của chị L được quyền tiếp tục nuôi cháu Vì Thị C L, sinh ngày 16/10/2009 đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Do anh T không có mặt tại phiên tòa, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, HĐXX xét thấy cần tiếp tục tạm giao T bộ tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave, BKS 26G1 – 034.00, đăng ký mang tên Vì Văn T; 01 tủ lạnh hiệu Sanyo; 01 tivi hiệu Sony ; 01 mảnh đất rộng 2.930m2 có dựng 01 ngôi nhà gỗ một gian, lợp tôn cho chị L quản lý. Nếu anh T có tranh chấp về tài sản, có thể khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Về nợ chung: Chị L là người đứng tên vay vốn Ngân hàng và thực hiện trả nợ chung theo định kỳ. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị Lường Thị L và Ngân hàng NNPTNT, chị L được tiếp tục trả nợ chung đối với Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi là 86.444.297 (Tám mươi sáu triệu, bốn trăm bốn mươi bốn ngàn, hai trăm chín bảy) đồng.

Về án phí: Nguyên đơn, chị Lường Thị L khởi kiện phải chịu án phí lý hôn, không phải chịu án phí giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147 BLTTDS, khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 57; điều 58; khoản 1 điều 60, khoản 1, 2 điều 81; khoản 1,3 điều 82; điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 25, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Vì Văn T.

Về con chung: Giao cháu Vì Thị C L, sinh ngày 16/10/2009 cho chị Lường Thị L chăm sóc giáo dục, đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vì Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị L, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung: Tạm giao T bộ tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave, BKS 26G1 – 034.00, đăng ký mang tên Vì Văn T; 01 tủ lạnh hiệu Sanyo; 01 tivi hiệu Sony; 01 mảnh đất rộng 2.930m2 có dựng 01 ngôi nhà gỗ một gian, lợp tôn cho chị Lường Thị L quản lý. Trong thời gian anh T chưa có mặt để giải quyết về tài sản, chị L không được thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng những tài sản trên. Anh T có thể khởi kiện việc chia tài sản chung trong vụ án dân sự khác.

Về nợ chung: Chị Lường Thị L tiếp tục trả nợ chung đối với Ngân hàng NNPTNT chi nhánh M C, Phòng giao dịch T N số tiền cả gốc và lãi là 86.444.297 (Tám mươi sáu triệu, bốn trăm bốn mươi bốn ngàn, hai trăm chín bảy) đồng.

Về án phí: Chị Lường Thị L chịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào dự phí xin ly hôn là 300.000 đồng đã nộp, tại biên lai thu tạm ứng án phí số 04331 ngày 05/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V H.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày T án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết công khai bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ