vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Anh Nguyễn Dũng T được ly hôn với chị Dương Cẩm Đ.

[2] Con chung: tên Nguyễn Lưu Quỳnh, sinh ngày 22/6/2013 giao cho anh Nguyễn Dũng T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Chị Dương Cẩm Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Anh Nguyễn Dũng T được ly hôn với chị Dương Cẩm Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-01-2018.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dư Thanh Hồng;

Ông Nguyễn Hải Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam, thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Không.

Ngày 15 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2017/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2018/QĐXX-ST ngày 22 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Nguyễn Dũng T, sinh năm: 1984 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp 10, xã T, huyện M, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: chị Dương Cẩm Đ, sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 5, xã T, huyện M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn anh Nguyễn Dũng T trình bày:

Năm 2011 được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên anh và chị Đ tổ chức đám cưới và tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống không được hạnh phúc do luôn bất đồng qua điểm sống trong sinh hoạt hàng ngày, vợ không quan tâm lo lắng cho gia đình bỏ mặc cha con anh, vợ chồng cải vả nhau sau đó vợ bỏ nhà về cha mẹ ruột ở từ tháng 3/2017 cho đến nay không về thăm con. Anh nhận thấy tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn mang lại hạnh phúc cho nhau được nên yêu cầu ly hôn với chị Dương Cẩm Đ.

- Về con chung: có 01 người con chung tên Nguyễn Lưu Quỳnh, sinh năm 2013, hiện anh đang nuôi con. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có không yêu cầu.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: chị Dương Cẩm Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện M triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng không vắng mặt không có lý do, theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ.

Về nội dung: anh Nguyễn Dũng T và chị Dương Cẩm Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa anh T với chị Đ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Tại phiên tòa, anh T vẫn giữ yêu cầu ly hôn với chị Đ với lý do vợ chồng không còn chung sống cùng nhau, vợ không chăm lo gia đình, không chăm sóc con chung, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Đối với chị Đ, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ chị Đ nhiều lần đề tham gia hòa giải nhưng chị Đ vắng mặt không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của anh T. Hiện nay vợ chồng cũng không chung sống cùng nhau, điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T với chị Đ đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T về việc ly hôn với chị Đ.

Về con chung: tên Nguyễn Lưu Quỳnh, sinh ngày 22-6-2013 hiện đang do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng vì vậy giao con chung cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Chị Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định, không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự thẩm: anh T phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; 56, 81, 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Anh Nguyễn Dũng T được ly hôn với chị Dương Cẩm Đ.

[2] Con chung: tên Nguyễn Lưu Quỳnh, sinh ngày 22/6/2013 giao cho anh Nguyễn Dũng T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Chị Dương Cẩm Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Dũng T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0011710 ngày 29 - 11 - 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M; anh Nguyễn Dũng T đã nộp đủ án phí.

Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ