vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị V được ly hôn với anh Quàng Văn K. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Quàng Trung Q; sinh ngày 24/3/2015 cho đến khi cháu Quý đủ 18 tuổi; anh Quàng Văn K chưa cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA - Lò THị V, Quàng Văn K, 07"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2018.
V/v tranh chấp: Xin ly hôn, giao
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Nhung và bà Bạc Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2018/TLST-HN&GĐ ngày 23 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị V; sinh năm: 1995; nơi cư trú tại: Bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn K; sinh năm: 1994; nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (Bị đơn vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 23 tháng 02 năm 2018, bản tự khai tại Tòa án và phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lò Thị V trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau ngày 25/11/2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Anh chị kết hôn tự nguyện, không ai cản trở ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị Lò Thị V trình bày chị đã bị anh Kiện đánh đập, ngược đãi chị. Vì không thể sống chung nên chị và anh K đã sống ly thân được khoảng 02 năm nay. Đến nay chị V không còn tình cảm với anh K, không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung với anh K nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lò Thị V được ly hôn với anh Quàng Văn K.

Về con chung: Chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K có 01 người con chung, cháu Quàng Trung Q, sinh ngày 24/3/2015. Từ nhỏ cháu Q đã sống cùng với chị V, từ ngày chị về bản M, xã Q sinh sống cùng bố mẹ đẻ thì chị cũng đưa cháu Q để trực tiếp nuôi dưỡng. Sau Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung, thu nhập hằng tháng trung bình của chị V là 4.000.000đ, đủ đảm bảo nuôi con ăn học, chị cũng có chỗ ở ổn định đảm bảo việc nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung; đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết việc giao con chung, cấp dưỡng nuôi con chung theo nguyện vọng của chị.

Về tài sản chung: Kể từ khi kết hôn không tạo lập được tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành giao các thông báo, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Quàng Văn K, nhưng anh K không có mặt để tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Về cơ bản đã thực hiện đúng tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm; căn cứ vào Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật HNGĐ năm 2014 và 147 BLTTDS về hướng giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình khởi kiện “Xin ly hôn, giao nuôi con chung” giữa nguyên đơn chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K. Sau khi nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa đưa ra đề nghị như sau: Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K đã không còn tình cảm, yêu thương, quan tâm lẫn nhau nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị V. Về con chung: Đề nghị giao cháu Quàng Trung Q, sinh ngày 24/3/2015 cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho người con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị căn cứ vào quy định tại Điều 147 BLTTDS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xem xét miễn án phí ly hôn cho chị Lò Thị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn khởi kiện xin ly hôn, giao nuôi con chung của chị Lò Thị V với anh Quàng Văn K thì được xác định là vụ án xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại Điều 51, Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Thời điểm chị Lò Thị V nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, anh Quàng Văn K có nơi cư trú tại bản Co M, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; quá trình giải quyết vụ án đương sự đã nhận được đầy đủ các thông báo thụ lý, Tòa án cũng đã thực hiện việc niêm yết và xác minh theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là anh Quàng Văn K, xét thấy sự vắng mặt không gây cản trở cho việc xét xử mà vẫn đảm bảo được đầy đủ quyền lợi cho anh Kiện. Do đó HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K kết hôn với nhau ngày 25/11/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Anh chị kết hôn tự nguyện, không ai cản trở ép buộc. Vậy có thể xác định cuộc hôn nhân của chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân & gia đinh năm 2014. Kể từ khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được mấy năm đầu, sau đó nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Chị Lò Thị V vì không thể tiếp tục cuộc sống chung với anh K nên vào tháng 10/2016 chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ của mình để sinh sống từ đó cho đến nay. Khi sống ly thân giữa hai anh chị cũng không có sự quan tâm chia sẻ hay liên lạc với nhau. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; đã thông báo hợp lệ cho anh Quàng Văn K để tham gia hòa giải và phiên tòa để có thể tiến hành hòa giải cho hai anh chị quay về đoàn tụ nhưng anh Quàng Văn K không có mặt, qua đó thấy việc anh K không có thiện chí hòa giải quay về đoàn tụ. Cũng để đảm bảo tính khách quan, toàn diện Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị V và anh Quàng Văn K thì được biết; từ khi chị V về nhà bố mẹ đẻ đến nay không quay lại chung sống với anh K nữa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng động viên chị V quay về đoàn tụ với anh K nhưng chị V cho rằng trong quá trình chung sống chị đã bị anh K đánh đập, ngược đãi chị nhiều lần do không thể chung sống nên chị mới đi đến quyết định ly hôn với anh K. Bởi vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng; cuộc sống hôn nhân giữa hai anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị V, cho chị Lò Thị V ly hôn với anh Quàng Văn K.

Về con chung: Xét yêu cầu giao nuôi con chung của chị Lò Thị V thì thấy: Từ khi chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống thì chị V đã tự mình chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q cho đến nay và tại phiên tòa chị cũng khẳng định chị đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Q cho đến tuổi trưởng thành. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo điều kiện cho cháu Q phát triển lành mạnh về cả thể chất, trí tuệ, đạo đức và hơn nữa, cháu Q tuổi còn quá nhỏ nên không thể thiếu đi sự chăm sóc của người mẹ. Bởi vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu nhận nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lò Thị V.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có nợ chung, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử, xét thấy chị Lò Thị V đủ điều kiện được xét miễn án phí ly hôn.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đưa ra đề nghị hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án, vì vậy cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014.

- Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị V.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị V được ly hôn với anh Quàng Văn K.

3. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Quàng Trung Q; sinh ngày 24/3/2015 cho đến khi cháu Quý đủ 18 tuổi; anh Quàng Văn K chưa cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Quàng Văn K có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.

4. Về án phí: Chị Lò Thị V được miễn án phí ly hôn.

Chị Lò Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/4/2018); anh Quàng Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Phòng KTNV và THA;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện T.Giáo;

- Chi cục THADS huyện T.Giáo;

- Đương sự;

- UBND xã Q;

- Lưu.

Lƣơng Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

Cỡ chữ