vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!ĐÔNG!HÒA!
TỈNH!PHÚ!YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 27- 3 - 2018.
Về việc tranh chấp: Xin ly hôn.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: !Bà Lê Thanh Huệ.
Các"Hội"thẩm nhân"dân:
1. Ông Trần Hạnh;
2. Bà Trần Thị Thu Ba.
huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
tòa: Ông Phan Văn Công – Kiểm sát viên.
thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 269/2017/TLST- HNGĐ
ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Xin"ly"hôn”,"theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 04/2018/QĐXX- ST ngày 07 tháng 3 năm 2018; giữa các đương
sự:
tỉnh Phú Yên – Có mặt.
Phú Yên – Có mặt.
!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*"Nguyên"đơn"chị"L"và"bị"đơn"anh"T"trình"bày:"

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2015.

Chị L khai: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L, anh T sống hạnh phúc một

thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp tính, thường xuyên cãi vã. Sự việc kéo dài và từ tháng 8 năm 2017, hai bên tự sống xa nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị L nhận thấy tình cảm đã hết nên xin được ly hôn anh T.

Anh T khai: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn

gì lớn, chỉ cãi vã lặt vặt. Chị L không chịu sống tại phía nhà anh T mà thường xuyên ở phía chị ấy. Từ tháng 8/2017 hai bên tự xa nhau đến nay. Vừa qua, anh T có đơn xin ly hôn, nhưng sau đó nhận thấy còn tình cảm với chị L nên đã rút đơn, không yêu cầu Tòa giải quyết. Nay, chị L xin ly hôn, anh T không chấp nhận ly hôn, đề nghị Tòa án cho đoàn tụ để nuôi con. Tại phiên tòa, anh T thống nhất ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con tên là K– sinh ngày 19/6/2016, hiện do chị L

nuôi. Chị L, anh T đều có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh T thống nhất giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Hai bên thống nhất không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử,

Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

+ Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thuận tình

ly hôn giữa chị L và anh T. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cho chị L tiếp tục nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 12 tháng 8 năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị L, anh T có mâu thuẫn do

không hợp tính, thường xuyên cãi vã. Sự việc kéo dài và từ tháng 8 năm 2017, chị L, anh T tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị L, anh T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh T.

[2] Về con chung: Xét thấy con chung K – sinh ngày 19/6/2016 còn rất

nhỏ, rất cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Cháu K lâu nay do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, đã quen sống cùng chị L và tại phiên tòa, anh T thống nhất giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng. Do đó, để giúp cháu K phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cháu K cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L làm nghề buôn bán, có sức khỏe, thu nhập

ổn định, đủ khả năng nuôi con và chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

[3] Tài sản chung: Các đương sự thống nhất không yêu cầu nên không

xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị L phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ (Ba"trăm"nghìn"đồng).

Vì"các"lẽ"trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; Điều 9, 26, 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhân sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh T.

2. Về con chung:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao con chung tên K– sinh

ngày 19/6/2016 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản

trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ

(Ba"trăm"nghìn"đồng)."Số tiền này được khấu trừ vào 300.000đ (Ba"trăm"nghìn" đồng)"tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại phiếu thu số AA/2015/0004079 ngày 20/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM/!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ