vanban.org

Bản án 07/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội; Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củaBà V: Buộc bàH (Chinh) và ôngPh phải trảBà V tổng số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội; Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/DS-ST
Ngày: 07/9 /2018
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Hùng

2. Ông Nguyễn Văn Chiến

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hà,Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa: Ông Phùng Văn Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 18/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2018, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXX- DS ngày 10 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Bà V, sinh năm 1955. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Phúc Tiến, xã Bình Yên, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: BàH (tên thường gọi: C ), sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn 84, xã K, huyện T, thành phố H.

Có đơn xin vắng mặt;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

AnhPh, sinh năm 1965. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 84, xã K, huyện T, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơnBà V trình bày:

Bà Cấn Thị V và bàH (C) có quan hệ quen biết nên ngày 23/02/2012, bà V có cho bà H, ông Ph vay 60.000.000đ và 18 tháng họ, tổng cộng là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Bà H vay tiền bà V để mua đất, lãi suất theo thỏa thuận. Khi bà V giao tiền có mặt cả bà H, ông Ph, bà V trực tiếp đưa tiền cho ông Ph, bà H thì viết giấy nhận tiền.Từ đó đến nay năm nào bà V cũng đến hỏi nợ nhưng bà H, ông Ph xin khất và hứa sau này có sẽ trả. Đến nay bà V chưa nhận được một đồng tiền nào của bà H, ông Ph nên bà V yêu cầu bà H, ông Ph phải thanh toán trả bà số tiền nợ 150.000.000đ. Bà V không yêu cầu tiền lãi phát sinh.

Yêu cầu khởi kiện của bà V: Bà V yêu cầu bà H, ông Ph phải thanh toán trả cho bà số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và bà không yêu cầu trả tiền lãi. Về lãi suất kể từ khi xét xử bà đề nghị giải quyết tính theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 19/6/2018 và biên bản hoà giải tại Toà án, bị đơn bàH (Chinh) trình bày: Bà và bà V có quan hệ quen biết. Ngày 23/02/2012, bà có vay của bà V số tiền 60.000.000đ và 18 tháng họ, tổng cộng là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Bà V có nhiều lần đòi nợ nhưng bà đều xin khất vì bà cũng chưa đòi được tiền của người vay nợ bà để trả cho bà V. Bà thừa nhận nợ bà V số tiền150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) và bà đồng ý thanh toán trả bà V toàn bộ số tiền trên nhưng thời điểm hiện nay bà không có tiền để trả ngay, sau này bà làm ăn kinh doanh kiếm được thì bà sẽ trả sau.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 19 tháng 7 năm 2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ôngPh trình bày: Việc bà V và vợ ông là bà H có quan hệ vay nợ nhau như thế nào ông không biết, bà H vay tiền của bà V không dùng vào công việc của gia đình. Việc vay nợ này là của riêng bà H nên ông không liên quan và xin vắng mặt.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Bản sao Giấy chứng minh thư nhân dân của bà V; Bản sao sổ hộ khẩu; Giấy biên nhận nợ: Biên bản xác minh nhân khẩu của bàH.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dan sự. Tại phiên toà hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục của phiên toà sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, nguyên đơn bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:Bà V và bàH có quan hệ vay tài sản số tiền bà H thừa nhận nợ bà V tổng cộng là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc và bà V không yêu cầu tiền lãi nên không xem xét. Yêu cầu của bà V là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về tố tụng: BàH (Chinh) cư trú tại xã Kim Quan, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội nênBà V khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thạch Thất giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng thẩm quyền theo Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bàH vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ôngPh (chồng bà H) đã được tống đạt hợp lệ và có ý kiến xin vắng mặt tại Toà án trong suốt quá trình tố tụng nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông Ph theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:Bà V và bàH đều thừa nhận: Hai bên có quan hệ vay nợ, việc vay tiền này có lập thành văn bản và theo giấy nhận nợ ngày 23/02/2012 do bà V xuất trình có nội dung bà Chinh ( H) Ph có vay của bà V số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng và 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) tiền đóng họ, tổng cộng số tiền bà H nợ bà V là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án, bà H thừa nhận có nợ bà V số tiền trên và nhận trách nhiệm thanh toán trả bà V toàn bộ số tiền 150.000.000đ. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ và đúng pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Việc vay nợ giữa bà V và bà H có thỏa thuận về lãi suất, tuy nhiên, nay bà V không yêu cầu bà H trả tiền lãi phát sinh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ trả nợ xét thấy: Các bên đương sự đều thừa nhận quan hệ vay tiền giữa bà V và bà H. Theo bà V thì khi cho vay ông Ph có biết và là người trực tiếp nhận tiền, ông Ph thì cho rằng không biết việc vay nợ giữa bà H và bà V. Tuy nhiên, xét thấy giấy nhận nợ chỉ do một mình bà H ký nhưng không ghi rõ mục đích vay và nay bà H cũng không chứng minh được sử dụng số tiền này vào mục đích gì. Mặt khác, khoản nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên ông Ph phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do bà H thực hiện. Căn cứ khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; buộc ông Ph phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền này cho bà V.

[6]- Về án phí: BàH và ôngPh phải chịu 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[7]- Về quyền kháng cáo:Bà V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. ChịH và anhPh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội; Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củaBà V:

2. Buộc bàH (Chinh) và ôngPh phải trảBà V tổng số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật vàBà V có đơn yêu cầu thi hành án nếu bàH (Chinh) và ôngPh chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất là 10%/năm, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự:

3.Về án phí: BàH và ôngPh phải chịu 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Hoàn trảBà V số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0000923 ngày 11/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.

4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Cấn Thị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

BàH và ôngPh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS ND huyện Thạch Thất;

- Chi cục thi hành án DS huyện Thạch Thất;

- Các đương sự;

- Lưu: HS - VPTA.

Nguyễn Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ