vanban.org

Bản án 07/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V.

Buộc chị Nguyễn Thị K trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V số tiền vốn vay và tiền lãi tổng cộng là 35.846.000 đồng (ba mươi lăm triệu, tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản Ngân hàng và K"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/DS-ST
Ngày: 03 – 5 – 2018
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
(tiền).”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Lâm.

2. Ông Nguyễn Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2018/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần T.V.

Địa chỉ: Số 09, Phố T, Phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Ngọc N, địa chỉ: Số 25, Đường L, Khóm X, Phường B, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng, (theo văn bản ủy quyền số: 16/2018/UQ-GĐK-TDTD, ngày 16 tháng 01 năm 2018), (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K.

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc N trình bày:

Vào ngày 11/10/2014, chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng tín dụng số 20141021-500002-0093 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V (sau đây viết tắt là Ngân hàng) vay số tiền 26.250.000 đồng, lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân.

Theo thỏa thuận, chị K có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi là 40.880.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng (23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.678.000 đồng, tháng cuối trả 2.286.000 đồng. Thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/12/2014.

Chị K đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Ngân hàng được ba lần, với số tiền là 5.034.000 đồng. Từ ngày 22/01/2015, chị K không thanh toán nữa, mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở và yêu cầu thanh toán.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị K phải trả cho Ngân hàng số tiền là 35.846.000 đồng (ba mươi lăm triệu, tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), trong đó tổng dư nợ gốc còn lại là 24.372.674 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hai lần, nhưng chị K không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia tố tụng mà không có lý do. Tòa án đã thông báo cho chị K biết kết quả phiên họp công khai chứng cứ. Chị K cũng được triệu tập hai lần tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng đều vắng mặt không có lý do.

[3] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị K đã được triệu tập tham gia tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt không lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt; về nội dung thì cho rằng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị K trả tiền vốn vay và lãi tổng cộng 35.846.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hai lần nhưng đều vắng mặt. Việc vắng mặt này không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn chị K trả tiền vay, nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) và bị đơn có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã M, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Vào ngày 11/10/2014, chị K có vay của Ngân hàng số tiền 26.250.000 đồng, lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân, theo thỏa thuận thì chị K có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 40.880.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng, bắt đầu từ ngày 01/12/2014, trong đó 23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.678.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.286.000 đồng. Theo lịch sử thanh toán thì chị K đã trả cho Ngân hàng được ba lần, thời gian trả cuối cùng là vào ngày 22/01/2015 với tổng số tiền là 5.034.000 đồng. Do đó, chị K còn nợ Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 35.846.000 đồng.

Theo điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết”. Vì hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với chị K được thực hiện xong trước ngày 01/01/2017 là ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, nên việc giải quyết vụ án này phải áp dụng Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11. Tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn, trong trường hợp không có thỏa thuận nào khác. Do hết thời hạn trả, mà chị K còn nợ Ngân hàng số tiền 35.846.000 đồng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị K trả số tiền này là có căn cứ chấp nhận.

Vì vậy, lời đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Do chị K có nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng, nên chị K phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể là: 35.846.000 đồng x 5% = 1.792.300 đồng.

- Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nên trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 290, khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468, điểm c khoản 1 Điều 688 và Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V.

Buộc chị Nguyễn Thị K trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V số tiền vốn vay và tiền lãi tổng cộng là 35.846.000 đồng (ba mươi lăm triệu, tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng chị K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/năm.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn chị Nguyễn Thị K phải chịu 1.792.300 đồng (một triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm đồng) án phí sơ thẩm.

- Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.V số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 896.000 đồng (tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004320 ngày 27 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ