vanban.org

Bản án 07/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 05/04/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 4 , Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 7 , 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144 ngày 29/ /201 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 32 /NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 4 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2017/HSST
Ngày: 05/4/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Ban à ông Tô Sỹ Thái

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Cán bộ Tòa án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hùng, Kiểm sát iên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2017, tại trụ sở UBND thị trấn T, huyện Phù Cừ. Tòa án nhân huyện Phù Cừ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ụ án hình sự thụ lý số 02/2017/TLST-HS ngày 10/3/2017 đối ới:

Bị cáo Lê Thanh T, sinh năm 1991; sinh, trú quán: Đội 5, phố A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn H và con bà Đinh Thị L, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/01/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 04 năm tù ề tội cướp tài sản; ngày 09/9/2013 bị Công an thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng ề hành i Chống người thi hành công ụ; Bbị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/201 , chuyển tạm giam từ ngày 24/12/2016 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa ụ liên quan: Ông Lê Văn H, sinh năm 19 8; Trú tại: Đội 5, phố A, phường A, thành phố H. tỉnh Hưng Yên; Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ truy tố ề hành i phạm tội như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 20/12/201 trên đường 38B thuộc thôn Cao Xá, thị trấn Trần Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Tổ tuần tra Công an huyện Phù Cừ phát hiện Lê Thanh T đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi ấn, tiến hành kiểm tra đã thu giữ tại í của T một gói nilon kích thước 3x3cm, bên trong có 02 gói nilon đều chứa tinh thể màu trắng, T khai đó là ma túy đá, thu giữ tại tất bên chân phải của T 01 gói ỏ bọc nhựa màu cam, kích thước 2x1,5cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai đó là heroin. Ngoài ra còn quản lý của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone5c có lắp sim; 01 í màu đen; 01 dùi cui điện màu đen; 01 bình xịt hơi cay; 01 xe mô tô nhãn hiệu Fanlim, BKS 89F3-0273; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Thanh T; 01 thẻ ATM ViettinBank; 03 đăng ký xe mô tô đối ới các xe có BKS 89F3-0273; 89H3-0606 và 89K3-1967.

Quá trình khám xét nơi ở của T, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đầu ống hút thủy tinh dài 3cm; 01 thanh kim loại một đầu dẹt một đầu hình trụ có quấn băng dính đen dài 9cm; 02 chai nhựa, bên trên mỗi chai có gắn 01 ống thủy tinh à có một ống hút nhựa; 01 bình thủy tinh cao 20cm bên trên có gắn một ống thủy tinh dài 15cm; 01 ống hút nhựa.

Kết luận giám định số 5780/C54(TT2) ngày 04/01/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định có trọng lượng 0,238gam, đều có Methamphetamine; chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định có trọng lượng 0,314gam, có heroine. Hoàn lại đối tượng giám định trong phong bì niêm phong số 5780/C54(TT2).

Quá trình điều tra, T khai: Khoảng 14 giờ 20 ngày 20/12/201 , T đến khu ực chợ Gạo mua ma túy của một người không rõ tên tuổi ề sử dụng, T mua được 300.000đ tiền Heroine à 300.000đ tiền ma túy đá. Sau đó đi xe mô tô ề thị trấn T để gặp người quen thì bị bắt giữ.

Ngày 20/01/2017, Chủ tịch UBND huyện Phù Cừ đã ra quyết định xử phạt hành chính 15.000.000đ đối ới T ề hành i tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ (01 dùi cui điện màu đen; 01 bình xịt hơi cay).

Các ật chứng gồm:

- 01 đầu hút bằng thủy tinh dài 3cm; 02 chai nhựa, bên trên mỗi chai có gắn 01 ống thủy tinh à có một ống hút nhựa; 01 bình thủy tinh cao 20cm bên trên có gắn một ống thủy tinh dài 15cm; 01 ống hút nhựa là do T tự chế để sử dụng ma túy đá; 01 dùi cui điện à 01 bình xịt hơi cay do T mua tại cửa khẩu Lạng Sơn để phòng thân là những ật không có giá trị à bị cấm nên Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim BKS 89F3-0273 cùng 02 đăng ký xe đối ới xe 89F3-0723 và 89K3-19 7 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn H (Bố đẻ T), Ông H không biết iệc T dùng xe đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe à các giấy đăng ký xe cho ông H.

- 01 giấy đăng ký xe BKS 89H3-0606, T khai cho một người tên T1 ở Khoái Châu ay số tiền 200.000đ, người này đã cắm đăng ký xe cho T; 01 điện thoại iPhone5c có lắp sim 09 3532520; 01 í da màu đen; 01 chứng minh nhân dân; 01 thẻ ATM của Lê Thanh T; 01 thanh kim loại dài 09cm; 01 phong bì niêm phong số 5780/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự Bộ Công an hiện đang bảo quản chờ xử lý.

Cáo trạng số 06/QĐ-VKS-HS ngày 09/3/2017 của VKSND huyện Phù Cừ truy tố bị cáo Lê Thanh T ề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành i phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; người có quyền lợi, nghĩa ụ liên quan xác định đã nhận lại ật chứng thuộc sở hữu của mình, không ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Thanh T ề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 4 ; Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 144/201 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối ới bị cáo. Ngoài ra Đại diện VKSND huyện P còn đề nghị ề xử lý ật chứng.

Căn cứ ào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát iên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 20/12/201 , trên đường 38B khu ực thôn Cao Xá, thị trấn Trần Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Lê Thanh T đã có hành i tàng trữ 0,314 gam Heroine và 0,238 gam Methamphetamine. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan ới lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản i phạm hành chính, ật chứng thu giữ à kết luận giám định. Tổng hợp khối lượng hai chất ma túy mà bị cáo tàng trữ chưa đủ định lượng để xem xét xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Như ậy, đã có đủ cơ sở để kết luận hành i của Lê Thanh T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố là có căn cứ à đúng pháp luật.

Hành i phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối ới các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, góp phần gia tăng tệ nạn xã hội à các tội phạm khác, do đó cần phải xét xử à áp dụng một hình phạt nghiêm khắc để đáp ứng yêu cầu đấu tranh à phòng chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự à nhân thân của bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra à tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ề hành i phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 4 của Bộ luật Hình sự năm 1999, ngoài ra bị cáo cũng được xem xét áp dụng những quy định có lợi trong Bộ luật hình sự 2015 đối ới tội phạm cụ thể mà bị cáo đã thực hiện.

Xét bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 04 năm tù ề tội cướp tài sản, được đặc xá ngày 30/8/2010 à bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt i phạm hành chính ề hành i chống người thi hành công ụ năm 2013, ngoài ra, cùng ới lần phạm tội này, bị cáo còn bị xử lý hành chính ề hành i tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, lần phạm tội này thuộc trường hợp nghiêm trọng do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp à thu nhập, ì ậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối ới bị cáo.

Về ật chứng:

- 01 giấy đăng ký xe BKS 89H3-0 0 ; 01 điện thoại iPhone5c có lắp sim 09 3532520; 01 í da màu đen; 01 chứng minh nhân dân; 01 thẻ ATM là của Lê Thanh T, không liên quan đến iệc phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo;

- 01 thanh kim loại dài 09cm, T từ chối nhận lại à 01 phong bì niêm phong số 5780/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự Bộ Công an chứa mẫu ật hoàn lại sau giám định là ật thuộc loại nhà nước cấm nên cần tịch thu cho hủy.

- Việc bị cáo sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Fanlim BKS 89F3-0273 cùng 02 đăng ký xe đối ới xe 89F3-0723 và 89K3-1967 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn H (Bố đẻ T). Ông H không biết iệc T dùng xe đi mua ma túy; các ật chứng khác gồm: 01 đầu hút bằng thủy tinh dài 3cm; 02 chai nhựa, bên trên mỗi chai có gắn 01 ống thủy tinh à có một ống hút nhựa; 01 bình thủy tinh cao 20cm bên trên có gắn một ống thủy tinh dài 15cm; 01 ống hút nhựa để sử dụng ma túy đá; 01 dùi cui điện à 01 bình xịt hơi cay, Cơ quan điều tra đã xử lý theo quy định ì ậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 4 , Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 7 , 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144 ngày 29/ /201 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 32 /NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định ề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý à sử dụng án phí à lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 2 (hai) năm 3 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2016.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối ới bị cáo.

Về ật chứng:

- Trả lại bị cáo 01 giấy đăng ký xe BKS 89H3-0 0 ; 01 điện thoại iPhone5c có lắp sim 09 3532520; 01 í da màu đen; 01 chứng minh nhân dân; 01 thẻ ATM.

- Tịch thu cho hủy 01 phong bì niêm phong số 5780/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an chứa mẫu ật hoàn lại sau giám định; 01 thanh kim loại dài 09cm (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa ụ liên quan đến ụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ