vanban.org

Bản án 07/2017/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/07/2017 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của ông Phan Quốc Tr và giữ nguyên quyết định của bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An.

Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc Tr về yêu cầu hủy Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT, huyện YT, tỉnh Nghệ An. Về Án phí: Buộc ông Phan Quốc Tr phải nộp 200.000đ án phí Hành chính sơ thẩm nhưng được trừ số tiền 200.000đ tạm ứng án phí đã nộp t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Phan Quốc Tr - UBND huyện YT"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Phan Quốc Tr và giữ nguyên quyết định của bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 116 Luật tố tụng Hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2017/HC-PT
Ngày 21/7/2017.
V/v khiếu kiện quyết định
Hành chính đình chỉ xây
dựng cơi nới trái phép.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lang Thị Duyến.
Các Thẩm phán: - Ông Lê Hồng Sơn.
- Bà Lê Thị Thanh.
Nghệ An.
Nguyễn Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19/7/2017 và ngày 21/7/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Nghệ An, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 04/2017/
TLPT - HC ngày 22/5/2017 về việc hủy quyết định hành chính đình chỉ xây
29/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
ngày 06 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Phan Quốc Tr – Sinh năm 1957.
Trú tại: Khối 1, thị trấn YT, huyện YT, Nghệ An. Có mặt.
Nghệ An. Ông Phan Doãn H – Chức vụ: Chủ tịch. Có mặt.
Địa chỉ: Khối 1, thị trấn YT, huyện YT, tỉnh Nghệ An.
năm 1964.
Trú tại: Khối 1, thị trấn YT, huyện YT, Nghệ An. Có mặt.
- Người có kháng cáo: Ông Phan Quốc Tr.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 06/3/2016, ông Phan Quốc Tr làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trẩn YT về việc đình chỉ xây dựng cơi nới trái phép ki ốt đối với gia đình ông Phan Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Tr. Lý do khởi kiện: Ông Phan Quốc Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tr cho rằng gia đình xây dựng trong phạm vi ranh giới lô đất mà trong Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 của Uỷ ban nhân dân huyện YT giao đất, gia đình không lấn chiếm đất và sử dụng đúng ranh giới của thửa đất như đã quy định tại điều 105, điều 107, điều 113 Luật Đất đai năm 2003. Ông Tr, bà Tr khẳng định gia đình sử dụng đúng ranh giới từ năm 1997, đến năm 2001 nhận Quyết định giao đất, năm 2002 làm nhà trên diện tích đất được mua đến năm 2015 làm nhà tiếp thì bị đình chỉ xây dựng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn YT ban hành Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD về việc đình chỉ xây dựng cơi nới trái phép ki ốt, Biên bản vi phạm số 03/BB-VPHC ngày 22/7/2015 và các văn bản ban hành sau Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 về việc giao đất cho gia đình làm thiệt hại quyền lợi của gia đình ông. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án hủy bỏ Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT.

Người bị kiện là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT trình bày: Ngày 22/7/2015, sau khi phát hiện việc xây dựng trái phép của gia đình ông Phan Quốc Tr, bà Nguyễn Thị Tr ở khối 1, thị trấn huyện YT thì tổ công tác của Uỷ ban nhân dân thị trấn YT đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trạng về việc vi phạm, đồng thời lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để xây dựng kiên cố được quy định tại khoản 2 điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ.

Căn cứ vào Biên bản kiểm tra hiện trạng xây dựng cơi nới trái phép ngày 22/7/2015; Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính số 03 ngày 22/7/2015; Căn cứ Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 của Uỷ ban nhân dân huyện YT về việc giao ki ốt số 16 và được quyền sử dụng 18m2 loại đất chuyên dùng trên cơ sở ki ốt đã được xây dựng sẵn để bán cho người dân; Căn cứ Quyết định 218/2006/QĐ.UB ngày 24/02/2006 của Uỷ ban nhân dân huyện YT ( Kèm theo bản vẽ chi tiết xây dựng ki ốt Trung tâm thương mại); Căn cứ bản vẽ mặt bằng chi tiết tỉ lệ 1/100 đã được Sở Xây dựng Nghệ An phê duyệt năm 1996; Căn cứ Quyết định số 1674/QĐ-UBND.KT ngày 15/5/2007 cuả Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Tr ( vợ ông Tr). Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT đã áp dụng điều 57, điều 68 Luật Xử lý vi phạm hành chính để ban hành Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 về việc đình chỉ việc xây dựng cơi nới trái phép ki ốt đối với gia đình ông Phan Quốc Tr là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc Tr.

Tại Bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An đã Quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 2 điều 193 Luật tố tụng Hành chính năm 2015.

Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc Tr về yêu cầu hủy Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT.

Về Án phí: Áp dụng khoản 1 điều 348 Luật tố tụng Hành chính : Buộc ông Phan Quốc Tr phải nộp 200.000đ án phí Hành chính sơ thẩm.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 10/4/2017, ông Phan Quốc Tr làm đơn kháng cáo có nội dung: Bản án sơ thẩm trái quy định pháp luật đất đai. Cụ thể: Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 giao đất đã ghi ranh giới rõ ràng, không có cơ sở xác định gia đình lấn đất. Hội đồng xét xử không căn cứ giá trị của ranh giới đã ghi trên Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 mà việc ghi trong Quyết định số 75 QĐ.UB của Ủy ban nhân dân huyện YT công nhận diện tích 18m2 là hết sức cẩu thả. Gia đình đã mua cả đất và ki ốt xây dựng sẵn có kích thước 6 x 3 = 18m2. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại để hủy bỏ bản án sơ thẩm; Buộc Ủy ban nhân dân thị trấn YT phải đền bù thiệt hại do quyết định đình chỉ xây dựng gây ra.

Tại phiên tòa, ông Phan Quốc Tr rút nội dung kháng cáo về yêu cầu bồi thường thiệt hại và vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo không đồng ý với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về việc tuân theo quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tài liệu, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán đã chuyển giao hồ sơ cho Viện Kiểm sát theo đúng quy định; Việc tranh tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử được tiến hành đúng theo quy định của Luật tố tụng Hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện và chấp hành quyền, nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Quốc Tr. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 241 Luật tố tụng hành chính để xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Ông Phan Quốc Tr phải chịu án phí Hành chính phúc thẩm và áp dụng bổ sung điều luật cho đầy đủ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, các căn cứ pháp luật hiện hành. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án Hành chính thấy:

Về thủ tục tố tụng: Đối tượng khởi kiện là Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT về việc đình chỉ xây dựng cơi nới trái phép trên đất phi nông nghiệp nên cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 điều 30 Luật tố tụng Hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 06/3/2016, ông Phan Quốc Tr có đơn khởi kiện tại Tòa án đối với Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 thì thời hiệu khởi kiện vẫn con theo điểm a khoản 2 điều 116 Luật tố tụng Hành chính. Vì vậy, cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết bằng vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo điều 31 Luật tố tụng Hành chính.

Xét nội dung kháng cáo của ông Phan Quốc Tr, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Xét tính hợp pháp của Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015: - Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD: Ngày 22/7/2015, tổ công tác của Uỷ ban nhân dân thị trấn YT đã lập biên bản kiểm tra hiện trạng việc gia đình ông Phan Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Tr xây dựng nhà cơi nới trên phần đất lưu không của Trung tâm thương mại và lập Biên bản vi phạm Hành chính số 03/BB-VPHC ngày 22/7/2015 về lĩnh vực quản lý đất đai. Ngày 23/7/2015, UBND thị trấn YT tiến hành xác minh tình tiết vụ việc vi phạm đối với gia đình bà Nguyễn Thị Tr. Sau khi xác minh đã lập biên bản về việc xác minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn YT đã ban hành Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 về việc đình chỉ xây dựng cơi nới trái phép ki ốt đối với bà Nguyễn Thị Tr là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định tại điều 208 Luật đất đai năm 2013; Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 102/2004/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ; Điều 14, khoản 1 điều 17 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ; Điểm b khoản 1 điều 2 Thông tư 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng.

Về cơ sở pháp lý: - Về nguồn gốc đất của ông Phan Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Tr: Tại Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 của Uỷ ban nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An về việc giao đất ki ốt sử dụng vào mục đích kinh doanh thương mại thể hiện: Giao cho bà Nguyễn Thị Tr được sử dụng 18m2 ( loại đất chuyên dùng cũ) trên cơ sở đấu thầu ki ốt mà huyện đã xây dựng sẵn; Tại khu Trung tâm thương mại cầu Dinh; Với mục đích chỉ sử dụng kinh doanh thương mại. Vị trí lô đất : Theo thiết kế phân lô đã duyệt là ô số 16. Ranh giới: - Phía Bắc giáp Chợ thị trấn; - Nam giáp phần lưu không đường 538; - Đông giáp quán ông Lê Tài; - Tây giáp cổng vào chợ thị trấn. Thời hạn sử dụng lâu dài; Số tiền phải nộp tại kho bạc Nhà nước là 23.000.000đ. ( là giá trị ki ốt kèm theo đất gắn với công Tr mà huyện đã xây dựng trên đất).

Quá trình sử dụng: Do mở rộng nâng cấp đường 538 ( vào năm 2002) , ốt thấp hơn đường, công Tr xuống cấp nên Uỷ ban nhân dân huyện YT ban hành Quyết định 218/QĐ-UB ngày 24/02/2006 về việc quy định quy mô xây dựng các ki ốt và đường bao quanh thuộc Trung tâm thương mại thị trấn huyện YT cho các hộ kinh doanh được phép nâng cấp cải tạo ki ốt theo quy định. Riêng phần đất còn lại phía trước các ki ốt ( phần mép phía ki ốt của đường bao quanh đến giáp với các ki ốt) là phần đất lưu không của Trung tâm thương mại, nếu các hộ có nhu cầu thuê ( hoặc mượn) thì phải làm đơn và được Ủy ban nhân dân thị trấn chấp thuận nhưng phải thực hiện các điều kiện tại điều 3 theo quyết định 218/QĐ-UB nêu trên.

Vào tháng 5/2017, hộ bà Nguyễn Thị Tr đã xây dựng công Tr kiên cố tường ngăn phần đất mượn phía trước dãy ki ốt. Theo biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 22/7/2015 của tổ công tác Uỷ ban nhân dân thị trấn YT; Biên bản vi phạm Hành chính số 03/BB-VPHC ngày 22/7/2015; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2016 của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện: Gia đình bà Nguyễn Thị Tr đã xây dựng cơi nới công Tr kiên cố: Phía Bắc ki ốt dài 3,2m; Phía Nam ( giáp đường 538) dài 3,2m; Phía Đông giáp ốt ông Lê Tài dài 3,3m; Phía Tây giáp cổng chợ dài 3,3m + 0,8m vê. Tổng diện tích 13,12m2 (ngoài diện tích 18m2 ki ốt đã được giao); Chiều cao sàn tính từ dưới lên khoảng 4,5m, trần đã đổ bê tông, xây tường táp lô.

Xét thấy quá trình sử dụng đất của gia đình ông Phan Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Tr: Năm 2006, bà Nguyễn Thị Tr xây dựng trên phần đất này và đã bị xử lý, bà Tr có khiếu nại yêu cầu được sử dụng phần diện tích đất ngoài diện tích 18m2 gắn liền với ki ốt được giao. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện YT đã có Quyết định số 1846/QĐ.UB ngày 09/10/2006 giải quyết khiếu nại lần đầu và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 1674/QĐ.UBND.KT ngày 15/5/2007 giải quyết khiếu nại lần hai không chấp nhận khiếu nại đòi quyền sử dụng 50m2 đất ngoài 18m2 ki ốt được giao.

Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa, ông Phan Quốc Tr cho rằng: Căn cứ Luật Đất đai thì ranh giới thửa đất gia đình ông sử dụng bao hàm cả diện tích ngoài 18m2 theo Quyết định số 75/QĐ.UB ngày 26/02/2001 nên ông không lấn chiếm, phần đất ông xây dựng là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông. Xét thấy: Tại Quyết định số 75 QĐ-UB ngày 26/02/2001 của UBND huyện YT thì bà Nguyễn Thị Tr chỉ được giao diện tích 18m2 đất gắn với ki ốt mà huyện đã xây dựng trên đất. Diện tích 13,12m2 mà ông Phan Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Tr xây dựng công Tr cới nới nằm ngoài diện tích 18m2 gắn với ki ốt và thuộc phần đất lưu không của Trung tâm thương mại do Uỷ ban nhân dân thị trấn YT quản lý. Vì vậy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT ban hành Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 về việc đình chỉ xây dựng cơi nới trái phép ki ốt đối với bà Nguyễn Thị Tr là đúng quy định tại điều 208 Luật Đất đai năm 2013; Điều 10 Nghị định 102/2004/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ; Điều 23 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ; Điều 2 Thông tư 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng. Do đó, cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc Tr là có căn cứ pháp luật. Kháng cáo của ông Phan Quốc Tr không có cơ sở để chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phan Quốc Tr phải chịu án phí Hành chính phúc thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn áp dụng thiếu điều luật, chưa tuyên khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp nên cấp phúc thẩm cần tuyên bổ sung cho đầy đủ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 241 Luật tố tụng Hành chính.

Bác kháng cáo của ông Phan Quốc Tr và giữ nguyên quyết định của bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ khoản 1 điều 30; điều 31; Điểm a khoản 2 điều 116; Điểm a khoản 2 điều 193 Luật tố tụng Hành chính.

Căn cứ điều 208 Luật đất đai năm 2013; Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 102/2004/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ; Điều 10, khoản 1 điều 17, điều 23 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ; Điểm b khoản 1 điều 2 Thông tư 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng;

Căn cứ khoản 1 điều 348 Luật tố tụng Hành chính; Điều 34 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc Tr về yêu cầu hủy Quyết định số 40/QĐ-ĐCXD ngày 23/7/2015 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn YT, huyện YT, tỉnh Nghệ An.

Về Án phí: Buộc ông Phan Quốc Tr phải nộp 200.000đ án phí Hành chính sơ thẩm nhưng được trừ số tiền 200.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004866 ngày 10/8/2016 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện YT, tỉnh Nghệ An

Án phí Hành chính phúc thẩm: Ông Phan Quốc Tr phải nộp 300.000đ, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông Phan Quốc Tr đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002360 ngày 24/4/2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện YT, tỉnh Nghệ An.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

*Nơi nhận:

Cỡ chữ