vanban.org

Bản án 06 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Quàng Thị M được ly hôn với anh Tòng Văn A

VÒ con chung: Chị M được quyền trùc tiÕp ch¨m sãc, nu«i d ìng con chung cháu là cháu Tòng Thị Thanh H sinh ngày 14/11/2011 và Tòng Thị Thanh T sinh ngày 05/10/2020 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Về cấp d ìng nuôi con chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị M- Tòng Văn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Quàng Thị M được ly hôn với anh Tòng Văn A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
KHU VỰC 1- ĐB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TØnh §iÖn Biªn
B¶n ¸n sè: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngµy 07/ 08/2025
V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn"
- ThÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bạc Thị Liên
- C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Bà Lò Thị Hiêng
tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1- ĐB
§ mở phiên tòa xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n hôn nhân và gia đình thụ lý sè:
63/2024/TLST-HNG§ ngµy 17 th¸ng 3 n¨m 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp
10/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyªn ®¬n: Chị Quàng Thị M - Sinh năm: 1993 (có mặt)
Nơi ĐKTT: Bản N 2, xã N, thành phố Đ (Nay là xã M), tỉnh Đ.
2. Bị đơn: Anh Tòng Văn A - Sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Trú tai: Bản N 2, xã N, thành phố Đ, (Nay là xã M), tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27/02/2025 đơn bổ sung và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên, chị Quàng Thị M (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân:Tôi và anh Tòng Văn A tổ chức đám cưới theo phong tục và có đi ®¨ng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Đ (nay là xã M,tỉnh Đ) vào ngày 18/4/2023. Chóng tôi kết hôn lµ tù nguyÖn, kh«ng bÞ ai Ðp buéc. Kết hôn và chung sống tại nhà chồng tại bản N 2, xã N (nay là xã M), tỉnh Đ. Chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh A đi chung sống với người phụ nữ khác không về nhà chúng tôi đã ly thân từ năm 2019. Tháng 2 năm 2024 hai bên gia đình đã hoà giải tự thoả thuận phân tài sản và ly hôn tại bản có sự chứng kiến của trưởng thôn cùng đại diện 2 họ và 2 vợ chồng. Hiện tình cảm không còn tôi đề nghị Toà cho tôi được ly hôn với anh Tòng Văn A.

2. Về con chung: Tôi và anh Anh có 02 con chung là cháu Tòng Thị Thanh H sinh ngày 14/11/2011 và Tòng Thị Thanh T sinh ngày 05/10/2020. Quan điểm của tôi xin được nuôi và chăm sóc cả 2 con cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

- Về phần cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai tôi có nguyện vọng được nuôi cả 2 con yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu là 1 triệu trên /01 tháng; Tại đơn xin sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện tôi không yêu cầu Toà giải quyết việc cấp cấp dưỡng nuôi con chung.

Tôi xin tự nguyện nuôi cả 2 con không yêu cầu anh A cấp dưỡng.

3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngày 17/3/2025, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân thành phố Đ ( nay khu vực 1- Đ) đã thông báo nội dung đơn xin ly hôn với các yêu cầu cụ thể của chị M cho anh A được biết, giao Thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh A. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Thông báo thụ lý vụ án, anh A không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Tòa án. Tòa đã triệu tập nhiều lần và tiến hành giao Thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải vụ án hợp lệ cho anh A, nhưng anh A vẫn không đến Tòa. Do vậy Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật hôn nhân gia đình đối với các đương sự. Ngày 29/5/2025 Tòa án nhân dân thành phố Đ (nay là khu vực 1-Đ) đã ra Quyết định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho anh A nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa và tiến hành tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh A đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Quàng Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.

- Anh Tòng Văn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n, qua thÈm tra t¹i phiªn toµ. Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về Tố tụng: Bị đơn có địa chỉ tại bản N 2, xã N, thành phố Đ, (nay là xã M), tỉnh Đ do vậy vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 1- Đ đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 177/BLTTDS, việc anh A không thực hiện quyền và nghĩ vụ được quy định tại các Điều 70;72/BLTTDS là do anh A đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, cho nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

. VÒ quan hệ hôn nhân: Anh Tòng Văn A và chị Quàng Thị M có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố Đ, ( nay là xã M), tỉnh Đ. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.

Theo lời khai của chị M và đơn xác nhận tình trạng hôn nhân do trưởng bản N, xã N thành phố Đ (nay là xã M), tỉnh Đ xác nhận cho thấy: Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh Tòng Văn A và chị M tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, anh đã bỏ vợ con đi chung sống với người phụ nữ khác không về nhà từ năm 2019 không còn quan tâm đến vợ con, vào tháng 2/2024 hai bên gia đình đã thống nhất phân chia tài sản con cái và ly thân có sự chứng kiến của an ninh viên bản, trưởng bản những người làm chứng có ký biên bản.

Bản thân chị M xét thấy tình cảm không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tòng Văn A.

Héi ®ång xÐt xö xÐt thÊy, ®Ó ®¶m b¶o quyÒn lîi cña chị M vµ ®Ó gi¶i phãng cho chị thoát khái t×nh tr¹ng hiÖn t¹i khi mµ cuộc h«n nh©n kh«ng thể đem lại hạnh phúc cho chị, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì mục đích của hôn nhân không đạt được. Hai anh chị không dành thời gian chung sống chăm sóc giúp đỡ nhau, theo Điều 19 luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hai anh chị không muốn thực hiện quyền và nghĩa vụ qui định tại điều luật này do hai anh chị đã sống ly thân hơn 5 năm nay. Bản thân anh A không có ý định hàn gắn tình cảm đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, ngoại tình như vậy không thể đảm bảo hạnh phúc gia đình cho chị M cùng các con. Áp dông Điều 51 và Điều 56 LuËt h«n nh©n gia ®×nh n¨m 2014 chấp nhận yêu cầu của chị M xử cho ly hôn giữa chị Quàng Thị M và anh Tòng Văn A.

. Về con chung: Chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là cháu Tòng Thị Thanh H sinh ngày 14/11/2011 và Tòng Thị Thanh T sinh ngày 05/10/2020

Xét thấy hiện tại chị M mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung bởi cháu đang lứa tuổi vị thành niên, xét theo nguyện vọng của cháu H có nguyện vọng ở với mẹ còn cháu Thanh T còn nhỏ cần mẹ chăm sóc nuôi dưỡng.Theo xác nhận của UBND xã N ( nay là xã M) do anh A thường xuyên đi làm thuê xa nhà và cũng không có ý định hàn gắn tình cảm với chị M mà bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc cũng không về chung sống cùng 3 mẹ con chị M. Hai anh chị đã ly thân hơn 5 năm nay. Như vậy không đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ. HĐXX căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận nguyện vọng của chị M. Giao con cho chị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, anh A có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

.Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX chấp nhận sự tự nguyện nuôi con của chị M.

. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về diện tích ruộng, nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: C¨n cø Khoản 4 §iÒu 147/BLTTDS. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Chị Quàng Thị M ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 19, Điều 69, Điều 81, 82, 83, 84 của LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh n¨m 2014; Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Chị Quàng Thị M được ly hôn với anh Tòng Văn A

2. VÒ con chung: Chị M được quyền trùc tiÕp ch¨m sãc, nu«i d ìng con chung cháu là cháu Tòng Thị Thanh H sinh ngày 14/11/2011 và Tòng Thị Thanh T sinh ngày 05/10/2020 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp d ìng nuôi con chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ng êi kh«ng trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn ®i l¹i th¨m nom, ch¨m sãc gi¸o dôc con chung kh«ng ai ® îc c¶n trë.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; diện tích ruộng, nương, Nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: C¨n cø Khoản 4 §iÒu 147/BLTTDS. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Chị Quàng Thị M ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm, chị M đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ theo biên lai số: 0001172 ngày 14/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ P (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ). (chị M đã nộp đủ ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm).

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết. Nơi gửi:

Cỡ chữ