vanban.org

Bản án 06 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thập H-Trần Văn V"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

C

I C

A I T AM

T

p - T do - nh ph

TỈ L CAI Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 15-03-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

A

C C

A

I C

A I T AM

T A

T

- TỈ L CAI

Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:

Th m hán - Ch t a hiên t a: Bà Trần Bích Thủy.

Các H i th m nh n d n:

1. Ông Bùi Quang Uyên.

2. Bà Bàn Thị Hương Giang.

Thư

hiên toà: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia hiên t a: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thập H- Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Ph, huyện B, tỉnh L - C m t.

Bị đơn: Anh Trần Văn V- Sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Thôn C, xã Ph, huyện B, tỉnh L - Vắng m t.

I

Ụ :

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án và bản tự khai cũng như tại phiên tòa, chị Trần Thị Thập H trình bày: Chị và anh Trần Văn V kết hôn vào ngày 01/3/2011 tại Uỷ ban nhân dân xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế cũng như nuôi dậy con cái, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ, không tìm được tiếng nói chung, anh Vũ mải chơi không tu chí làm ăn, không chăm lo đến gia đình. Từ đó vợ chồng thường xuyên xô xát đánh cãi chửi nhau làm ảnh hưởng đến con cái. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng tình cảm vẫn không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Bản thân chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đến nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 người con chung là cháu Trần Thị Mai A, sinh ngày: 16/12/2011 và cháu Trần Thị Ngọc B, sinh ngày 21/11/2015, hiện tại các cháu đều phát triển bình thường và đang ở cùng với chị Hòa. Khi ly hôn chị có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh Vũ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết, anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, do anh Trần Văn V đi làm ăn xa, không thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Vũ và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận không khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên Toà án không hòa giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: Về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.

Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng; Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội xử cho chị Trần Thị Thập H được ly hôn với anh Trần Văn V; Giao cháu Trần Thị Mai A và cháu Trần Thị Ngọc B cho chị Trần Thị Thập H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Vũ không phải thực hiện ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con chung, được đi lại thăm nom, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

Ậ Ị C A T A :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Thập H khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Văn V. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thập H và anh Trần Văn V là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế cũng như nuôi dậy con cái, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ, không tìm được tiếng nói chung. Anh Vũ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới trở về nhà để thăm con, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau, mỗi người một nơi. Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh Vũ không thường xuyên có mặt tại địa phương vì vậy Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mâu thuẫn của vợ chồng chị Hòa đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật.

Vì vậy việc chị Hòa xin ly hôn với anh Vũ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Do anh Trần Văn V không thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Vũ và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh Vũ là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 người con chung là cháu Trần Thị Mai A, sinh ngày: 16/12/2011 và cháu Trần Thị Ngọc B, sinh ngày 21/11/2015, hiện tại các cháu phát triển bình thường và đang ở cùng chị Hòa, chị Hòa có nguyện vọng được là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Vũ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ vắng mặt tại địa phương nên Tòa án phải niêm yết các văn bản tố tụng cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Chị Hòa đã cung cấp đơn có xác nhận của địa phương về mức thu nhập của bản thân. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Trần Thị Mai A và cháu Trần Thị Ngọc B cho chị Hòa tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị Hòa không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị Hòa trình bày về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết, anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Hòa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;.

Vì các trên,

Q ẾT Ị :

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội;

1. Xử cho chị Trần Thị Thập H được ly hôn với anh Trần Văn V.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Mai A, sinh ngày: 16/12/2011 và cháu Trần Thị Ngọc B, sinh ngày 21/11/2015 cho chị Trần Thị Thập H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn V không phải thực hiện ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Trần Văn V có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Thập H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003050 ngày 10/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Trần Thị Thập H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. N i nh n:

TM

I

T

T M

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;

T M P

- C TỌA P IÊ T A

- VKSND huyện Bảo Thắng (2);

- THADS huyện Bảo Thắng;

- UBND xã Phong Niên;

- Đương sự (02);

- Lưu HS, TA, VP .

Trần í h Thủy

TM

I

T

T M

T M P

- C TỌA P IÊ T A

guyễn Thị oàng Liên

Cỡ chữ