- Tranh chấp gì? "Ksor Hô Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
- Căn cứ chính? Điều 5 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019HSST Ngày: 22/3/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - -
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ksor Jưh
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nay Ngun
+ Ông Chế Công Nghị
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Bá Thới – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXX-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
Ksor H, sinh ngày 20/9/1996 tại Ph Th, Gia Lai; trú tại: Pl T, xã I Ak, Ph Th, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpa Ch và bà Ksor H’N; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
- Người bào chữa: Bà Ngô Thị Vân – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 01 tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người bị hại: Trần Văn T, sinh năm 1978
Trú tại: Pl T, xã I Ak, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
-Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Đinh Hồng K, sinh năm 1989. Vắng mặt
Trú tại: Tổ dân phố 18, thị trấn Ph Th, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
Ksor T, sinh ngày 17/9/2002. Vắng mặt
-Người đại diện hợp pháp của Ksor T: Bà Ksor H’Y, sinh năm 1976 (Mẹ ruột)
Cùng trú tại: Pl Ơ, xã Ay H, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
Ksor Nh, sinh ngày 17/02/2004
Trú tại: Pl T B, xã I Ak, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
-Người đại diện hợp pháp của Ksor Nh: Bà Ksor H’N, sinh năm 1975 (mẹ ruột). Vắng mặt
Trú tại: Pl T B, xã I Ak, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
Kpă A Ch, sinh ngày 01/01/2006
-Người đại diện hợp pháp của Kpă A Ch: Bà Kpă H’S (mẹ ruột)
Trú tại: Pl T A, xã I Ak, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
Kpă Iơ, sinh năm 1990.có mặt
Trú tại: Pl T A, xã I K, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
Ksor Q (B), sinh năm 2002. Có mặt
- Người đại diện của Ksor B: Ông Ksor Ph (cha ruột). Có mặt
Cùng trú tại: Pl T A, xã I Ak, huyện Ph Th, tỉnh Gia Lai.
- Người phiên dịch: Ông Rcom Pu – Tổ dân phố 15, thị trấn Phú Thiện. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tối ngày 23/7/2018, Ksor Nh và Ksor T đến tiệm internet ở Pl T A, Ia Ak, Ph Th chơi. Tại đây, Tương thấy nhà anh Trần Văn T, sinh năm 1978 ở sát bên quán không có người ở nhà. Tương rủ Nh và Kpă A Ch, sinh năm đang ngồi chơi trong tiệm internet đột nhập vào nhà anh T trộm cắp tài sản. Nghe vậy, Ch và Nh đồng ý. Cả ba đột nhập vào nhà anh T bằng lối cửa sau. T lục tìm tủ quần áo của anh T lấy được 500.000 đồng, Nh lục tìm trong ví da lấy 700.000 đồng, Ch lục tìm lấy được 01 con heo đất đựng tiền tiết kiệm bên trong có 2.000.000 đồng, 02 điện thoại hiệu Nokia loại màn hình đen trắng và một điện thoại hiệu Samsung J7 Prime. Lấy trộm được tài sản, Nh cùng T và Ch đi đến mương thủy lợi gần đó chia nhau số tiền lấy trộm được. 02 điện thoại hiệu Nokia khởi động nguồn không được nên cả bọn vứt bỏ trên đường đi. Nha cầm 01 điện thoại hiệu Samsung J7Prime đi cất giấu. Khoảng 2 ngày sau, Nh cùng T mang điện thoại đến nói cho Ksor H biết đã lấy trộm được tại nhà anh T, đồng thời nhờ H mang bán chiếc điện thoại này. H nhận điện thoại từ Nh, tiếp tục cất giấu và nhờ Kp ă O mở khóa màn hình (mật khẩu bằng hình vẽ) rồi nhờ Kpă Iơ (thường gọi là Iêc) và Ksor Q (thường gọi là Bi) mang đến tiệm mua bán điện thoại của anh Đinh Hồng K bán được 2.400.000đồng. Số tiền bán được điện thoại, H cho Iơ 10.000 đồng mua xăng, đưa cho Nh 200.000đồng còn lại tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 16/KLĐG-HĐ ngày 17/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản- TTHS huyện Phú Thiện xác định: 03 chiếc điện thoại di động mà Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch trộm cắp trị giá là 3.754.000 đồng. Riêng chiếc điện thoại hiệu Samsung J7Prime mà bị cáo Ksor Hô đi tiêu thụ có giá trị là 3.594.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định các đối tượng Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tuy nhiên chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch.
Quá trình điều tra, sau khi cơ quan CSĐT kết thúc điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố, bị can Ksor H đã bỏ trốn khỏi địa phương, Viện kiểm sát đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án; bị can và Yêu cầu cơ quan CSĐT ra Quyết định truy nã đối với bị can Ksor H. Ngày 13/01/2019 cơ quan CSĐT đã bắt được bị can Ksor H.
* Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ: Một điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime. Đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 02 điện thoại hiệu Nokia màn hình đen trắng không rõ số hiệu do Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch đã ném bỏ trên đường đi nên không thu giữ được.
* Về mặt dân sự:
Anh Trần Văn T đã nhận lại điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime của mình đồng thời yêu cầu Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch phải bồi thường mỗi người 1.500.000 đồng đối với số tiền mặt và điện thoại bị mất, gia đình của Ksor Nh và Ksor T đã bồi thường xong. Anh T không yêu cầu gì thêm.
Anh Đinh Hồng K yêu cầu Ksor Hô trả lại số tiền 2.400.000đồng tiền mua điện thoại. Hiện Ksor H đã trả đầy đủ tiền cho anh K. Anh K không yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 02/CTr-VKS ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ksor H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện VKS đề nghị: Tuyên bố bị cáo Ksor H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,I, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Ksor H từ 06( sáu) tháng đến 09( chín) tháng tù.
Người bào chữa đề nghị: Nhất trí với VKS về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà VKS đề nghị. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo “ Phạm tội gây thiệt hại không lớn” theo điểm h khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Áp dụng thêm điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Ksor H 04( bốn) tháng tù.
Quá trình tiến hành đối đáp, tranh luận đại diện viện kiểm sát và người bào chữa đều giữ nguyên quan điểm đã đề nghị
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Tối ngày 23/72018, Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch đã đột nhập vào nhà anh Trần Văn T trộm cắp được tài sản gồm tiền mặt, hai điện thoại hiệu Nokia loại màn hình đen trắng và một điện thoại hiệu Samsung J7 Prime. Khoảng 02 ngày sau Nh và T nhờ bị cáo Ksor H mang bán giùm chiếc điện thoại hiệu Samsung J7 Prime để lấy tiền tiêu xài . Mặc dù biết được chiếc điện thoại do Nh, T, A Ch trộm cắp mà có nhưng H vẫn đồng ý nhận đi bán dùm. Sau đó Ksor H nhờ Kpă Iơ và Ksor Q( Bi) đem bán cho anh Đinh Hồng K được 2.400.000đồng. Số tiền bán điện thoại được Ksor H chia cho Kpă Iơ 10. 000đồng, cho Ksor Nh 200.000 đồng còn lại bị cáo Ksor H tiêu xài cá nhân hết. Theo bản kết luận định giá số 16/KLĐG-HĐ ngày 17/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản- TTHS huyện Phú Thiện xác định: 03 chiếc điện thoại di động mà Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch trộm cắp trị giá là 3.754.000 đồng. Riêng chiếc điện thoại hiệu Samsung J7Prime mà bị cáo Ksor H đi tiêu thụ có giá trị là 3.594.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ksor H đã cấu thành tội “Tiêu thụ thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện đã truy tố bị cáo Ksor H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Ksor H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự ổn định trật tự quản lý trị an, công cộng, hành vi đó còn gián tiếp tạo điều kiện cho hành vi phạm pháp cho người khác, đồng thời gây tâm lý hoang mang, bất bình tại địa phương. Trong quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý và giải quyết vụ án. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ , hậu quả tội phạm mà bị cáo gây ra và đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần xem xét, áp dụng cho bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy rằng do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để xét cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định.
Đối với hành vi của Ksor Nh, Ksor T và Kpă A Ch là vi phạm pháp luật, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp thì Ksor Nh, Ksor T và A Ch đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không khởi tố hình sự các đối tượng này là đúng pháp luật.
Đối với Kpă Iơ và Ksor Q là người mang điện thoại đi bán giúp Ksor H nhưng cả hai không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
Đối với Đinh Hồng K là người đã mua chiếc điện thoại hiệu Samsung J7 Prime mà các đối tượng đã bán. Khi mua, Kiên không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra của Công an huyện,Viện kiểm sát huyện: Cơ quan điều tra công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo Ksor H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ksor H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b,i, s khoản 1 Điều 5; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ksor H 05(Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2019.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ksor H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/01/2019, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hánh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -VKSND h. Phú Thiện - Công an h. Phú Thiện - THADS h Phú Thiện - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu Tòa án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Ksor Jưh |