- Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! |
Bản án số: 06/2020/HSST Ngày: 03-3-2020
!
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông!Huỳnh!Tòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông!Đồng!Văn!Hóa
Ông!Nguyễn!Viết!Xứng!
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam!- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm!Tuyết!Nh!(tên gọi khác: không),!sinh năm 1997; Nơi sinh: Bình Phước, Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 8/12; Nơi cư trú: Ấp Minh T, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1953 và bà Lê Thị M, sinh năm 1954. Bị cáo có 06 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1975 và bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.
- Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/11/2019 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1/ Ông Vũ Xuân Tr, sinh năm 1996(vắng mặt).
Trú tại: Ấp 9, xã Tân L, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1997(vắng mặt).
Trú tại: Ấp Ch, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
3. Bà Nguyễn Cao Ngọc Nh, sinh năm 1996(vắng mặt).
Trú tại: Tổ 29, Ấp Minh T, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
4. Bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, sinh năm 2000(vắng mặt).
Trú tại: Ấp Thuận H, xã Thuận Ph, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
5. Bà Lê Thị M, sinh năm 1954(có mặt).
Trú tại: Ấp Minh T, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 01/10/2019 Nguyễn Thị Kim Ng, Vũ Xuân Tr, Nguyễn Cao Ngọc Nh và Nguyễn Thị Thùy Tr1 cùng đến quán cà phê “FAMYLY” thuộc tổ 23, ấp Minh Tân, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước do bà Lê Thị Minh làm chủ chơi với bị cáo Phạm Tuyết Nh là con gái của bà Minh. Trong lúc ngồi chơi tại chòi lá số 4, bị cáo Nh vào phòng ngủ của mình lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 bình thủy tinh hình hồ lô, trên nắp có gắn ống thủy tinh có đầu phình to để bỏ ma túy vào (nỏ) đưa cho Ng cầm ra chòi số 4, Nh lấy 01 gói nylon đựng ma túy mang ra đưa cho Tr đổ vào nỏ để sử dụng. Khi tất cả đang chuần bị đốt ma túy để hút thì bị Công an huyện Đồng Phú phối hợp Công an xã Tân Tiến tiến hành kiểm tra hành chính. Khi bị kiểm tra hành chính Ng cầm bộ dụng cụ ma túy đá có chứa chất ma túy giấu trong áo đang mặc trên người, khi được yêu cầu giao nộp thì Ng làm rơi bộ dụng cụ sử dụng mat túy đá nên (nỏ) bị bể. Lực lượng Công an tiến hành đổ phần ma túy bên trong “nỏ” vào 01 ống hút nhựa dài 03cm, hàn kín lại rồi tiến hành niêm phong (ký hiệu M1).
Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra phòng ngủ của bị cáo Phạm Tuyết Nh phát hiện bên trong phòng có 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 ống thủy tinh cong có một đầu phình to; 02 cái kìm bằng kim loại; trên nóc tủ phòng có 01 gói nylon kích thước (01x01)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (bị cáo Nh khai nhận là ma túy đá) được niêm phong (ký hiệu M2).
Quá trình điều tra bị cáo Nh khai nhận số ma túy nói trên do Nh mua của Mai Đức Thi (chưa xác định nhận thân lai lịch) với giá 500.000 đồng để sử dụng.
Vật!chứng!thu!giữ:!
- 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ+vàng, dài 3cm, kín 2 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 (một) gói nilon hàn kín, kích thước (01 x 01)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 (một) bình thủy tinh hình hồ lô màu đỏ vàng;
- 02 (hai) bình thủy tinh hình hồ lô màu trắng;
- 02 (hai) ống thủy tinh cong có một đầu phình to.
- 02 (hai) kìm bằng kim loại màu trắng;
Tại bản Kết luận giám định số 220/2019/GĐ-MT ngày 15/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:
Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nilon được hàn kín (ký hiệu M2) được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1072 gam.
Tinh thể màu trắng có trong 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín (ký hiệu M1) được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0523 gam.
Tại Bản Cáo trạng số 06/CTr -VKS ngày 07/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Phạm Tuyết Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Tuyết Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Tuyết Nh mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên:
+ Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,590 gam.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói bình thủy tinh hình hồ lô màu đỏ vàng; 02 (hai) bình thủy tinh hình hồ lô màu trắng; 02 (hai) ống thủy tinh cong có một đầu phình to; 02 kìm bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Ý kiến của bị cáo Phạm Tuyết Nh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau: !
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tuyết Nh đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 06/CTr -VKS ngày 07/01/2020 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 01/10/2019, bị cáo Phạm Tuyết Nh đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1595 gam Methamphetamine loại ma túy đá tại quán cà phê và tại phòng ngủ của mình. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố bị cáo Phạm Tuyết Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng điều khoản quy định của pháp luật.
Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách Nhệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì động cơ cá nhân muốn ăn chơi, hưởng thụ, dấng thân vào con đường tệ nạn xã hội nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy như đã phân tích ở trên. Bản thân bị cáo là một phụ nữ khỏe mạnh nhưng không lo làm ăn mà tụ tập bạn bè hút chích ma túy tự mình dấng thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, thiết nghĩ cần xử bị cáo mức án nghiêm, bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này và nhằm đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách Nhệm hình sự đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự: Xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách Nhệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách Nhệm hình sự nào.
[5] Đối với đối tượng tên Mai Đức Thi là người bán ma túy cho bị cáo hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Phú chưa xác minh được nhân thân lai lịch, nên đã tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Vũ Xuân Tr và bà Nguyễn Thị Kim Ng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do khối lượng ma túy mà Tr và Ng tàng trữ có khối lượng 0,0523 gam loại Methamphetamine chưa đủ định lượng theo quy định của Bộ luật hình sự nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó ngày 29/11/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi của Tr và Ng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng ma túy của bị cáo Phạm Tuyết Nh, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Vật chứng vụ án:
+ Đối với mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,590 gam cần tuyên tiêu hủy.
+ Đối với: 01 (một) bình thủy tinh hình hồ lô màu đỏ vàng; 02 (hai) bình thủy tinh hình hồ lô màu trắng; 02 (hai) ống thủy tinh cong có một đầu phình to; 02 kìm bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
![7]Về!trách!nhiệm!dân!sự:!không!
![8]Về!hình!phạt!bổ!sung:!Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy Nhên xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
![9]!Án!phí!hình!sự!sơ!thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Tuyết Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tuyết Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Tuyết Nh 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2019.
3. Về hình phạt bổ sung: không.
4. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 phong bì được niêm phong bên trong chứa 0,590 gam ma túy.
+ 01 (một) bình thủy tinh hình hồ lô màu đỏ vàng;
+ 02 (hai) bình thủy tinh hình hồ lô màu trắng;
+ 02 (hai) ống thủy tinh cong có một đầu phình to;
+ 02 kìm bằng kim loại.
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bị cáo Phạm Tuyết Nh phải nộp 200.000đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - P. PV 27 CA tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Đồng Phú (01); - VKSND tỉnh Bình Phước (01); - CC THADS huyện Đồng Phú(01); - CA huyện Đồng Phú (03); - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01); - UBND xã Tân Tiến(01); - Bị cáo; người tham gia tố tụng(01); - Lưu (02). | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa! ! ! !Huỳnh!Tòa! |