- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Hiệp - Vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HS-PT Ngày: 06 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Bắc.
Ông Nguyễn Thành Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 12 năm 2025 và ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở A, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 611/2025/TLPT-HS ngày 23/10/2025 đối với bị cáo Phạm Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 2000 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Văn V; Mẹ: Nguyễn Thị D; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H có giấy phép lái xe hạng C và có tham gia nhóm tự phát tên là Đội phòng chống tội phạm và an toàn giao thông thị xã P (thường lái xe cứu thương đi làm công tác thiện nguyện). Chiều ngày 07/12/2024, H nhận được cuộc gọi từ ông Trịnh Minh C nói H điều khiển xe ô tô cứu thương BKS 51B-508.91 của ông C đến chùa Q chở một chiếc quan tài về Trung tâm Y tế thị xã P để mai táng cho nạn nhân, Hiệp đồng ý rồi điều khiển xe đến chùa Q để chở chiếc quan tài theo yêu cầu của ông C.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô cứu thương BKS 51B-508.91 lưu thông trên đường V theo hướng từ xã S đi phường P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T đi phường P, thành phố Hồ Chí Minh). Khi đi đến ngã tư giao nhau với đường S, thuộc tổ E, ấp C, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là tổ E, khu phố C, phường T, thành phố Hồ Chí Minh), H điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ nên gây tai nạn giao thông với xe mô tô BKS 72E1-923.84 do ông Lỷ A B lưu thông trên đường Sông Xoài – Cầu R theo hướng từ ấp C đi Sông X.
Hậu quả: ông B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C1, đến ngày 08/12/2024 thì tử vong tại bệnh viện. Quá trình điều tra, Phạm Văn H đã thừa nhận hành vi điều khiển xe ô tô lưu thông vượt đèn đỏ, gây tai nạn giao thông như nêu trên.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P (nay là Cơ quan CSĐT Công an thành phố H) đã phối hợp với VKSND thị xã Phú Mỹ (nay là VKSND khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh) cùng các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, gia đình ông B đã từ chối khám nghiệm tử thi nên cơ quan chức năng không thể tiến hành khám nghiệm được.
- Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ TNGT là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường V với đường Sông Xoài – Cầu R. Trước ngã tư từ các đường đều có đèn tín hiệu giao thông hoạt động. Đường V có biển báo đường ưu tiên và giao với đường không ưu tiên. Đường S - Cầu R có biển báo giao với đường ưu tiên. Lấy mép lề đường bên phải của đường V, theo hướng từ phường T đi phường P, thành phố Hồ Chí Minh làm lề chuẩn; lấy trụ đèn tín hiệu trước ngã tư, trên đường V hướng từ P đi T làm mốc cố định. Khu vực va chạm: nằm trong giao lộ ngã tư, cách lề chuẩn 4,95m; cách lốc máy xe mô tô 2,2m hướng về phường T.
- Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số: 24/KLTTHS ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B, đối với ông Lỷ A B kết luận: Ông Lỷ A B khả năng chết do đa chấn thương nặng không hồi phục. Vật tác động, chiều hướng tác động gây thương tích: Các thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, lực tác động rất mạnh, tác động vào cơ thể nạn nhân theo nhiều chiều hướng khác nhau.
- Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là: Do Phạm Văn H điều khiển xe ô tô lưu thông không chấp hành báo hiệu đường bộ (vượt đèn đỏ). Vi phạm Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô do ông L A B điều khiển, làm ông B tử vong.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn H và ông Trịnh Minh C đã bồi thường cho gia đình ông Lỷ A B số tiền 200.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Cơ quan CSĐT Công an thành phố H) đã trả lại 01 xe mô tô BKS 72E1-923.84; 01 xe ô tô BKS 51B-508.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50027792; 01 chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB3418696 do Trung tâm Đ – 03D cấp ngày 15/11/2024; 01 giấy phép sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên số 001774 do Phòng C2 Công an thành phố H cấp ngày 14/6/2021, cho chủ sở hữu hợp pháp, theo Quyết định xử lý vật chứng số 316/QĐ ngày 13/02/2025 và số 393/QĐ ngày 25/02/2025.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Phạm Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 21/9/2025 bị cáo Phạm Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị oan, xin được giảm án và hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt Phạm Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm các tài liệu bị cáo là quân nhân xuất ngũ, được tặng giấy khen khi còn trong quân ngũ; quá trình tham gia công tác cùng đội thiện nguyện, phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh được Công an tỉnh B, UBND các phường P, Mỹ Xuân T nhiều giấy khen và Thị đoàn P tặng Bằng khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định:
Phạm Văn H có giấy phép lái xe hạng C và tham gia nhóm tự phát tên là “Đội phòng chống tội phạm và an toàn giao thông thị xã P” được giao lái xe cứu thương đi làm công tác thiện nguyện. Ngày 07/12/2024 H nhận nhiệm vụ chở 01 quan tài đến Trung tâm Y tế P để nhận xác 01 người để mai táng. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/12/2024, khi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường V và đường Sông Xoài – Cầu Ri thuộc tổ E, ấp C, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Văn H đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51B-508.91 không chấp hành báo hiệu đường bộ, vượt đèn đỏ gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển kiểm soát 72E1 – 923.84 do ông Lỷ A B điều khiển chở theo vợ là bà Ửng Cún M. Hậu quả ông B chết tại bệnh viện C1 ngày 08/12/2024.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Phạm Văn H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo:
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Bị cáo là người có nhận thức, được giao lái xe cấp cứu, thường xuyên tham gia giao thông nhưng không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm 01 người chết. Do đó, cần phải xử bị cáo mức án thật nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần nâng cao ý thức của những người tham gia giao thông.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực cấp cứu cho bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 năm tù có phần nghiêm khắc.
Lời khai của bà Ửng Cún M (vợ bị hại) có trong hồ sơ đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp bổ sung Giấy xuất ngũ và Giấy khen tặng danh hiệu chiến sĩ lao động tiên tiến năm 2021; quá trình tham gia đội thiện nguyện, phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh được Công an tỉnh B, UBND các phường P, M… tặng nhiều giấy khen và Thị đoàn P tặng Bằng khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, xét thấy trong vụ án bị cáo là người vượt đèn đỏ gây tai nạn, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, do đó để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo này của bị cáo.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí: Bị cáo Phạm Văn H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hồ Chí Minh; - Phòng PV 06, 27 CA TP Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - TAND khu vực 12, TP Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 12, TP Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 12, TP Hồ Chí Minh; - Bị cáo và những người TGTT khác; - Lưu. (15) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |