vanban.org

Bản án 06/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đề nghị của Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ADBPXL Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đề nghị của Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2026/QĐ-TAĐà Nẵng, ngày 13 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐÀ NẴNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn H.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Nguyệt Sương.

Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/2026/QĐ-TA ngày 20/3/2026 và Quyết định hoãn phiên họp số 03/2026/HSST-QĐ ngày 27/3/2026:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; CCCD số: 049083002529 cấp ngày 22/6/2023, nơi cấp: C06 Bộ C1; Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông: Nguyễn Văn B (chết) và bà Đoàn Thị B1 (chết).

Tiền sự:

- Ngày 31/12/2025 bị Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 12/01/2026).

Nhân thân

- Ngày 06/02/2009, bị TAND huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt tù có thời hạn 18 tháng (Bản án số 05/2009/HSST);

- Ngày 30/11/2010, bị TAND huyện Giằng, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt tù có thời hạn 27 tháng (Bản án số 15/2010/HSST);

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Bùi Đình C; Chức vụ: Phó Trưởng Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng tham gia phiên họp: bà Trịnh Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Nguyễn Văn N bị Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 12/01/2026 và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 15/01/2026. Trong thời gian N bị quản lý, ngày 03/3/2026 Công an xã Đ phát hiện Nên có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về làm việc thì N khai nhận vào ngày 28/02/2026 N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng, để xác định N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Công an xã Đ tiến hành test nhanh ma túy đối với Nên thì cho kết quả dương tính với chất ma túy. Đồng thời, lập hồ sơ đề nghị Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với N thì cho kết quả Nguyễn Văn N nghiện ma túy Methamphetamine.

Tại bản tường trình của Nguyễn Văn N đề ngày 03/3/2026 thừa nhận: bản thân Nên sử dụng ma túy từ năm 2024, hình thức sử dụng là hút, tần suất sử dụng 04 lần/tháng và N có đơn không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định.

Vì vậy, Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11-Đà Nẵng xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

Tại phiên họp:

- Đại diện cơ quan đề nghị Công an xã Đ trình bày ý kiến: Nguyễn Văn N là người nghiện ma túy nhưng bản thân Nên không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện. Trong thời gian cư trú địa phương, Công an xã và gia đình luôn quan tâm, giáo dục, tạo điều kiện giúp đỡ nhưng N vẫn không tiến bộ, không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Để đảm bảo tình hình ANTT tại địa phương và kịp thời răn đe, giáo dục các đối tượng khác; Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy, Công an xã Đ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đà Nẵng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Nguyễn Văn N trong thời gian từ 20 tháng đến 24 tháng để N có điều kiện chữa bệnh, lao động, thoát khỏi ma túy, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

- Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn N đúng trình tự, thủ tục theo quy định; Thẩm phán được phân công giải quyết đã tuân thủ đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp; Về nội dung đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N trong thời gian từ 20 tháng đến 24 tháng.

Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an xã Đ đề nghị đảm bảo trình tự, thủ tục đúng theo quy định tại Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 28, Điều 32 Luật phòng chống ma túy; các Điều 40, 41, 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy.

Về nội dung, mức áp dụng:

Nguyễn Văn N là đối tượng nghiện ma túy, là người đã đủ 18 tuổi nhưng từ chối đăng ký cai nghiện tại cộng đồng, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện. Vì vậy, Nguyễn Văn N thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng xem xét quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N là cần thiết, đúng pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Văn N không những gây mất an ninh, trật tự mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Để đảm bảo tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác và để tạo điều kiện cho Nguyễn Văn N chữa bệnh, lao động, thoát khỏi ma túy, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N trong thời hạn nhất định là cần thiết và chính đáng.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm thì thấy: ông Nguyễn Văn N nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết những tác hại của ma túy gây ra, nhưng vì nghiện ngập nên Nguyễn Văn N vẫn thực hiện. Hành vi của Nguyễn Văn N có thể làm phát sinh hành vi vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Nguyễn Văn N thì thấy: Nguyễn Văn N có 01 tiền sự: Ngày 31/12/2025 bị Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 12/01/2026) nên áp dụng “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Nguyễn Văn N có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về ý kiến của đại diện Công an xã Đ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đà Nẵng tại phiên họp là có cơ sở, đúng quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96 và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sửa đổi, bổ sung); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 40, 41, 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Điều 3, 8, 20, 21, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Chấp nhận đề nghị của Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện.

3. Nguyễn Văn N có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, tống đạt quyết định hợp lệ.

Trưởng Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Đà Nẵng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố (ngày 13/4/2026).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng và Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ