vanban.org

Bản án 06/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 13/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 17-8-2025). Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến C - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS-ST
Ngày 13-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tấn

Bà Vương Thị Thu Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Đào –Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến C –Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24-5-1986 tại Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và con bà Vũ Thị H, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; Tiền án : Không;

Tiền sự:

- Ngày 14-3-2019, bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

- Ngày 16-12-2022, bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Nhân thân: Ngày 27-02-2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-8-2025, tạm giam từ ngày 20-8-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo Quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cứ trú số 01/QĐ-UBND ngày 02-01-2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Lào Cai. Khoảng 08 giờ ngày 15-8-2025, Nguyễn Tiến C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, biển kiểm soát 21E1-367.85 đến nhà ông Nguyễn Khắc Sơn, sinh năm 1967 (trú tại thôn Ngòi Lẫu, xã Châu Quế, tỉnh Lào Cai) mua một gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Tiến C đi về nhà và cất giấu ma túy trong nhà vệ sinh. Đến khoảng 11 giờ ngày 16-8-2025, tại nhà vệ sinh, Nguyễn Tiến C một mình lấy gói ma túy đã cất giấu ra để sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít vào cơ thể. Ngày 17-8-2025, Công an xã L triệu tập Nguyễn Tiến C đến làm việc, qua thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Tiến C cho kết quả dương tính. Công an xã L đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Tiến C để trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 1384/KL-KTHS ngày 19-8-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Tiến C gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine, Codeine và chất 6-MAM (Morphin, Codeine và chất 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu).

Cáo trạng số 26/CT-VKS-KV3 ngày 02-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố Nguyễn Tiến C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Về án phí, quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tiến C khai báo thành khẩn, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Tiến C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo Quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cứ trú số 01/QĐ-UBND ngày 02-01-2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Lào Cai nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể, Khoảng 08 giờ ngày 15-8-2025, Nguyễn Tiến C đến nhà ông Nguyễn Khắc Sơn, sinh năm 1967 (trú tại thôn Ngòi Lẫu, xã Châu Quế, tỉnh Lào Cai) mua một gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Tiến C đi về nhà và cất giấu ma túy trong khe tường gạch của nhà vệ sinh. Đến khoảng 11 giờ ngày 16-8-2025, tại nhà vệ sinh, Nguyễn Tiến C một mình lấy gói ma túy đã cất giấu ra để sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít vào cơ thể.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hiện nay Nhà nước ta có nhiều chủ trương nhằm phòng, chống và đẩy lùi loại tệ nạn này, từ tệ nạn ma túy làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương, bị dư luận xã hội lên án. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích; đã từng 02 (hai) lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đều chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện tại địa phương nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tự tu dưỡng rèn luyện của bị cáo là rất kém.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Năm 2014 bị cáo đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với ông Nguyễn Khắc Sơn là người bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 15-9-2025, đang bị khởi tố, điều tra trong một vụ án khác nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với chiếc xe nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, biển kiểm soát 21E1-367.85 bị cáo đã sử dụng để đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị H không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vưc 3 – Lào Cai là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 17-8-2025).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Tiến C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ