vanban.org

Bản án 06/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/10/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hoàng Văn Đ - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS- ST
Ngày 21/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 -LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Hồ Trọng Trung

2, Ông Hoàng Văn Thứ.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát Viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/HSST ngày 26/12/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐXXST-HS ngày 10/01/2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn Đ, sinh ngày 27/11/1984. Nơi sinh xã Kh Y, tỉnh L C. Nơi cư trú: Thôn L2, xã Kh Y, tỉnh L C. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Văn Ch (đã chết), con bà Hoàng Thị Nh. Địa chỉ: Thôn L2, xã Kh Y, tỉnh L C. Bị cáo có vợ là Ngô Thị Q (đã ly hôn), bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014. Hiện đều trú tại thôn Bô 2, xã KhY, tỉnh LC. Tiền án: Không. Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 08/05/2018, Hoàng Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2019, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

+) Người chứng kiến: Ông Bùi Đ Th, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ 17 Kim Tân, phường LC, tỉnh LC. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 13/10/2025, Hoàng Văn Đ đi xe khách từ Lào Cai về xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Khoảng 19 giờ cùng ngày khi Đ đang đi bộ ở đường thì gặp một người đàn ông không quen biết, dáng người gầy, cao khoảng 1m60 và hỏi mua được 01 gói ma túy heroine gói bằng giấy bạc với giá 200.000 đồng. Sau đó Đ vào hiệu thuốc (không nhớ tên) mua một xi lanh giá 5.000 đồng. Trên đường đi bộ về Đ đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết. Khi đi đến đoạn đường vắng nhà dân, bên cạnh suối ở xã Chiềng Ken, Đ xin xuống xe và đi ra bờ suối. Tại đây, Đ mở gói ma túy heroine ra đổ toàn bộ vào trong xi lanh, tiếp đó hút nước suối vào trong xi lanh, pha heroine thành dung dịch rồi tự tiêm chích vào tĩnh mạch tay trái. Sau khi sử dụng ma túy xong Đ vứt xi lanh cùng giấy bạc xuống suối và đi về nhà.

Trước đó, ngày 11/12/2022 Hoàng Văn Đ đã đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Đến ngày 09/12/2024 thì tự ý chấm dứt việc điều trị nên ngày 03/02/2025, Cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế - Bệnh viện đa khoa huyện Văn Bàn (nay là Bệnh viện đa khoa khu vực Văn Bàn) ra thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Hoàng Văn Đ.

Tại bản kết luận giám định số 2674/KL-KTHS ngày 16/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Hoàng Văn Đ gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine (Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể. Morphine: Số thức từ 55. Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ)

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS- KV8 ngày 25/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai để xét xử về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa: Hoàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không phạt Tiến đối với bị cáo.

Về vật chứng: Không.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận ngày 13/10/2025, bị cáo đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 14/10/2025, Công an kiểm tra, test nhanh kết quả bị cáo dương tính với chất ma túy. Trước đó, bị cáo đã đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Đến ngày 09/12/2024 thì tự ý chấm dứt việc điều trị nên ngày 03/02/2025, Cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế - Bệnh viện đa khoa huyện Văn Bàn (nay là Bệnh viện đa khoa khu vực Văn Bàn) đã chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Hoàng Văn Đ.

Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản lấy mẫu và kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy, bản kết luận giám định số 2674/KL-KTHS ngày 16/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Bản cáo trạng số 21/CT-VKS- KV8 ngày 25/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đã được điều trị Methadone tại cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng đến ngày 09/12/2024 bị cáo tự ý chấm dứt điều trị cai nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Chấp hành xong bản án, đến nay bị cáo đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với người đàn ông không quen biết bán ma túy cho Đ và người đàn ông bị cáo đi nhờ xe. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ, không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

[7] Về án phí: Xét thấy, bị cáo Hoàng Văn Đ không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo của địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/10/2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ