- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HS-ST Ngày 06-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Thường
2. Ông Phạm Thành Đô.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hà Tiến Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2005 tại xã T, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Lò Thị U; vợ, con: Không; tiền án: Không; tiền sự: 01, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng, theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 14/QĐ-TA ngày 25-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; đến ngày 05-11-2024 chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giữ từ ngày 07-10-2025, bị tạm giam từ ngày 10-10-2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 222/QĐ-UBND ngày 14-11-2024 của UBND xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai), thời gian quản lý từ ngày 14-11-2024 đến ngày 14-11-2026.
Trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện Lò Văn T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; cụ thể vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 07-10-2025 tại khu vực tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai, Lò Văn T đã mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T mang đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai và sử dụng hết số Heroine vừa mua được bằng hình thức cho H lên giấy bạc sau đó dùng bật lửa đốt nóng phía dưới rồi hít khỏi Heroine vào cơ thể.
Vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 07-10-2025 tổ công tác Công an phường C đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố N, phường C, phát hiện Lò Văn T có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma túy; tổ công tác đã đưa Lò Văn T về trụ sở Công an phường C; vào hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày Công an phường C phối hợp với Trạm y tế T1 thuộc Trung tâm y tế K1 tiến hành xét nghiệm ma túy (thử test nhanh) nước tiểu của Lò Văn T. Kết quả trong mẫu nước tiểu của Lò Văn T dương tính với chất ma túy. Công an phường C đã lấy mẫu nước tiểu của Lò Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Cùng ngày Công an phường C, tỉnh Lào Cai đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn T và truy tìm vật chứng tại khu vực nghĩa trang thuộc tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai. Kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số: 2477/KL-KTHS ngày 09-10-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Trong chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Lò Văn T, sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine, C.
Morphine là sản phẩm chuyển hóa của heroine trong nước tiểu. Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Cáo trạng số: 41/CT-VKS-KV5 ngày 15-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghịỦy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được hòa nhập cùng cộng đồng xã hội thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Lò Văn T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 222/QĐ-UBND ngày 14-11-2024 của UBND xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai), thời gian quản lý từ ngày 14-11-2024 đến ngày 14-11-2026.
Trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện Lò Văn T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; cụ thể vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 07-10-2025 khu vực nghĩa trang T2, phường C, tỉnh Lào Cai, Lò Văn T lấy gói Heroine đã mua được trước đó ra sử dụng bằng hình thức hít Heroine vào cơ thể.
Vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 07-10-2025 tổ công tác Công an phường C đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố N, phường C, phát hiện Lò Văn T có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma túy; tổ công tác đã đưa Lò Văn T về trụ sở Công an phường C; vào hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày Công an phường C phối hợp với Trạm y tế T1 thuộc Trung tâm y tế K1 tiến hành xét nghiệm ma túy (thử test nhanh) nước tiểu của Lò Văn T. Kết quả trong mẫu nước tiểu của Lò Văn T dương tính với chất ma túy. Công an phường C đã lấy mẫu nước tiểu của Lò Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Kết luận giám định số: 2477/KL-KTHS ngày 09-10-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Trong chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Lò Văn T, sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine, C. Morphinelà sản phẩm chuyển hóa của heroinenước tiểu. Morphine:Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của luật phòng, phòng chống ma túy của bị cáo Lò Văn T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình2015 được sửa đổi bổ sung vào năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Bị cáo Lò Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng; sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.
Xét nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, năm 2023 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó cần xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Từ trước đến nay bị cáo chưa phạm tội lần nào, tội phạm bị cáo đã thực hiện thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 100ml mẫu nước tiểu của Lò Văn T được thu vào 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp màu trắng, được niêm phong vào một phong bì, Cơ quan giám định đã dùng làm mẫu giám định, không hoàn lại đối tượng giám định.
- Đối với chiếc bất lửa, giấy bạc Lò Văn T khai đã dùng để sử dụng ma túy. Quá trình điều tra không thu thập được những vật chứng này nên không đặt ra để xem xét, xử lý trong vụ án.
Các đối tượng và hành vi có liên quan:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán H cho bị cáo Lò Văn T vào ngày 07-10-2025 tại tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu, nên không có cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án.
Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 07-10-2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 5, tỉnh Lào Cai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai (PC 04); - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 5, tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; - Lưu hs, TA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Lên |