vanban.org

Bản án 06/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 26/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 32, khoản 1 Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; 1.

Giao bị cáo Trần Thế V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Công an xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Trần Thế Văn - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? p dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 32, khoản 1 Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; 1.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH
Bản án số: 06/2026/HS-ST
Ngày: 27-01-2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Vĩ Hoàng và ông Phạm Hồng Chương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Thế V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/5/1991, tại: xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:10/12; Chức vụ, đảng phái, đoàn thể: Không; Họ và tên cha: Trần Văn L; Sinh năm: 1964; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Họ và tên mẹ: Trần Thị N; Sinh năm: 1969; Nghề nghiệp: Nội trợ; Đều cư trú tại: Thôn P, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị can là con thứ nhất; Vợ: Đậu Thị Hằng N1; sinh năm 1992; Nghề nghiệp: Kế toán; Con: Có 1 người, sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/9/2025 đến nay có mặt tại phiên toà;

- Người bị hại: Ông Trần Văn B (Đã chết).

- Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Bà Nguyễn Thị D; sinh năm: 1964; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

Nghề nghiệp: Lao động tự do

- Người làm chứng:

- Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh

(v ng mặt tại phiên toà)

- Anh Trần Văn H, sinh năm: 1983, Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh (v ng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 29/7/2025, Trần Thế V có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 04/6/2012, có giá trị không thời hạn, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38N1 - 216.12 đi trên đường T hướng từ xã T đi xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh, khi đi đến Km12+630, là khu vực ngã tư giao nhau c ng mức gi a đường Tỉnh lộ 546 với đường liên thôn thuộc địa phận thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh, có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (ký hiệu W207a) nhưng Trần Thế V không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 38N1 - 216.12 do Trần Thế V điều khiển đã va chạm vào phần ốp giảm xóc phía trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88 do ông Trần Văn B (sinh năm 1964, trú tại: thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) điều khiển đi từ trong nhà bên phải đi ra để di chuyển qua đường. Hậu quả: Ông Trần Văn B bị thương đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện h u nghị đa khoa tỉnh N, đến ngày 30/7/2025 thì tử vong, hai xe mô tô liên quan bị hư hỏng.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H lập vào hồi 15 giờ ngày 29 tháng 7 năm 2025, xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông được xác định tại Km12 + 630 tỉnh lộ 546, đường được trải thảm nhựa, mặt đường bằng ph ng, có chiều rộng mặt đường là 8m, được chia thành 02 chiều đường xe chạy, ở gi a 02 chiều đường xe chạy có vạch k màu vàng, đứt quãng. Chiều đường hướng xã T đi xã Đ rộng 04m. Chiều đường hướng xã Đ đi xã T rộng 04m. Nơi xẩy ra tai nạn là ngã tư giao nhau gi a đường liên thôn thuộc địa phận thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh với đường T, hướng B c là hướng đi xã Đ, hướng Nam là hướng đi xã T, hướng Đ và hướng Tây là khu vực dân cư thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Đường th ng, tầm nhìn không bị che khuất. Tại vị trí trước khu vực giao nhau gi a đường T và đường liên thôn thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh có c m biển báo W207a (biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên).

* Ghi số thứ tự:Vết cày xước đường nhựa; Xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88; Vũng máu nạn nhân, kích thước (0,20 x 0,10m); Vết cày xước đường nhựa; Xe mô tô biển kiểm soát 38N1-216.12;

+ Điểm mốc được xác định là cột biển báo số W207a c m ở mép đường nhựa bên phải hướng xã T đi xã Đ.

+ Mép đường làm chuẩn là mép đường nhựa phía bên phải hướng xã T đi xã Đ.

* Mô tả theo vị trí thứ tự vết cày xước, phương tiện, vũng máu nạn nhân: Từ cột biển báo số W207a được c m ở mép đường nhựa phía bên phải hướng xã T đi xã Đ trở về hướng đi xã Đ trên mặt đường nhựa hướng xã T đi xã Đ xuất hiện vết cày xước đường nhựa được ký hiệu trên sơ đồ là (1). Vết cày xước mặt đường nhựa được ký hiện trên sơ đồ là (1) nằm trên chiều đường hướng xã T đi xã Đ có t ng chiều dài là 3,90m, chiều hướng xã T đi xã Đ. Từ điểm đầu dấu vết cày xước đường nhựa (1) đến mép đường làm chuẩn là 2,60m; từ điểm cuối vết cày xước (1) đến mép đường làm chuẩn 1,60m.

Từ điểm đầu vết cày xước (1) trên sơ đồ trở về hướng đi xã Đ 3,0m là xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88 được ký hiệu (2) trên sơ đồ. Xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88 được ký hiệu là (2) trên sơ đồ ngã nghiêng bên phải trên mặt đường nhựa chiều đường hướng xã T đi xã Đ, từ trục bánh trước xe mô tô 81B - 397.88 đến mép đường làm chuẩn là 1,90m, từ trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88 đến mép đường làm chuẩn là 1,30m.

Từ điểm đầu vết cày xước (1) được ký hiệu trên sơ đồ trở về hướng đi xã Đ 3,10m trên mặt đường nhựa chiều đường đi hướng xã T đi xã Đ xuất hiện dấu vết máu đỏ s m (dạng máu) được ký hiệu trên sơ đồ là (3). Vết máu đỏ s m (dạng máu) được tạo thành từng giọt, có kích thước (0,20x0,10)m nằm trên mặt đường nhựa chiều đường hướng xã T đi xã Đ. Từ tâm dấu vết màu đỏ s m đến mép đường làm chuẩn là 2,90m.

Từ điểm đầu vết cày xước (1) trên sơ đồ trở về hướng đi xã Đ 3,20m trên mặt đường nhựa chiều đường hướng xã Đ đi xã T xuất hiện vết cày xước mặt đường nhựa thứ 2 được ký hiệu trên sơ đồ là (4), chiều hướng xã T đi xã Đ có t ng chiều dài là 4,90m, từ điểm đầu vết cày xước (4) trên sơ đồ đến mép đường làm chuẩn là 4,30m, từ điểm cuối vết cày xước (4) trên sơ đồ đến mép đường làm chuẩn là 4,75m.

Từ điểm đầu vết cày xước (1) trên sơ đồ trở về hướng đi xã Đ 7,30m là trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 38N1-216.12 được ký hiệu trên sơ đồ là (5). Xe mô tô biển kiểm soát 38N1-216.12 ngã nghiêng bên trái, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng T. Từ trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 38N1- 216.12 trở về mép đường làm chuẩn là 4,0m. Từ trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 38N1-216.12 đến mép đường làm chuẩn là 5,10m.

Từ trụ bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88 trở về hướng đi xã Đ đến trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 38N1- 216.12 là 3,40m.

- Tại biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H lập hồi 14 giờ ngày 30/7/2025 xác định:

Tử thi là ông Trần Văn B (sinh ngày 10/2/1964, trú tại: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Các dấu vết trên tử thi: + Khủy tay phải bị sưng nề, bầm tụ máu kích thước (6x4)cm; Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da, sưng nề, bầm tụ máu; Mặt ngoài đ i trái bị sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (24x10)cm; Mu bàn chân hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác.

- Tại bản kết luận giám định tử thi số 987/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần Văn B do đa chấn thương. (Bút lục số 66-67).

- Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô, nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 38N1- 216.12, do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H lập hồi 14 giờ 00 phút, ngày 30/7/2025, xác định:

+ Má lốp bên phải bánh trước có dấu vết mài trượt kích thước (70 x 3)cm, chiều hướng từ ngoài vào trong, tâm dấu vết cách chân van 65cm theo chiều chuyển động tiến của bánh xe; Cung trước ch n b n bánh trước có dấu vết trượt xước, nứt vỡ kích thước (30 x 21)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 52 cm; Phần bên trái của ốp mặt nạ phía trước có dấu vết nứt vỡ, trượt xước, kích thước (22 x 11)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 64 cm; Mặt ngoài góc bên trái ốp mặt nạ có dấu vết trượt xước, kích thước (17 x 4,2)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 77 cm; Ốp cụm đèn chiếu sáng phía trước có dấu vết trượt xước, kích thước (14 x 7)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 65 cm; Cánh ướm bên trái bị gây bung rời khỏi phương tiện;Đầu mút tay phanh bên trái có dấu vết mài trượt, kích thước (1,5 x 11)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 93cm; Mặt ngoài đầu mút tay lái bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (02 x 1,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 96,5 cm. Tay lái bị cong gập, chiều hướng từ trên xuống dưới; Ốp bàn để chân phía trước bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (30 x 2,5) cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 25,5 cm; Bàn đạp chân phía sau bên trái có dấu vết mài trượt kích thước (8x1) cm, tâm dấu vết cách mặt đất 45cm; Ốp bảo vệ lọc gió có dấu vết trượt xước kích thước (10 x 4,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, tâm dấu vết cách mặt đất 47 cm; Phần bên trái của tay nâng phía sau yên xe có dấu vết trượt xước kích thước (1,6 x 07)cm, chiều hướng từ trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 81 cm;

* Kỹ thuật an toàn phương tiện: Phương tiện đang bị hư hỏng, không tiến hành kiểm tra. (Bút lục số 63)

- Tại biên bản khám phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future biển kiểm soát 81B1-397.88, do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H hồi 15 giờ 35 phút, ngày 30/7/2025, xác định:

+ Vành bánh trước bị cong vênh, 02 nan hoa bị bung rời khỏi may ơ; Giảm xóc phía trước bên trái gãy bung rời khỏi phương tiện, khung sau ch n b n bánh trước có dấu vết nứt vỡ, kích thước (35 x 6)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 50cm; Mặt ngoài ốp phía sau c xe có dấu vết nứt vỡ, trượt xước bám dính chất màu đen, kích thước (16 x 14)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 70 cm; Cánh ướm bên trái gây bung rời khỏi phương tiện; Mặt ngoài phần bên trái của ốp ống yếm có dấu vết nứt vỡ, trượt xước, kích thước (40 x 17)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 55 cm; Mặt ngoài ốp đèn xi nhan phía trước bên phải nứt vỡ, trượt xước, kích thước (7,5 x 3,5) cm, tâm dấu vết cách mặt đất 109 cm; Đầu mút tay phanh bên phải có dấu vết mài trượt, kích thước (2 x 0,9)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 101,5 cm; Mặt phía ngoài gương chiếu hậu, giá g n gương chiếu hậu có dấu vết mài trượt bám dính sơn màu tr ng, kích thước (14 x 5)cm, chiều hưởng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 115 cm; Mặt ngoài ốp bàn đạp phanh có dấu vết mái trượt, kích thước (2,5 x 2) cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 28 cm; Đầu mút bàn đạp chân phía trước bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5 x 1)cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 3 cm;

* Phương tiện đang bị hư hỏng, không tiến hành kiểm tra.

* Kỹ thuật an toàn phương tiện: Phương tiện đang bị hư hỏng, không tiến hành kiểm tra.

- Tại bản Kết luận giám định số 947/KL-KTHS ngày 14/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

Xe mô tô mang biển kiểm soát 38N1-216.12 và xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88 có va chạm với nhau, vị trí va chạm:

+ Ốp mặt nạ phía trước, cụm đèn phía trước xe mô tô mang biển kiểm soát 38N1-216.12 va chạm với cánh yếm bên trái, mặt bên trái ốp phía sau cổ xe, phần bên trái ốp ông yếm xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88; Bánh trước, cung trước chắn bùn bánh trước xe mô tô mang biển kiểm soát 38N1-216.12 va chạm với ốp giảm xóc phía trước bên trái, mặt bên trái bánh trước xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88; Vị trí va chạm giữa xe mô tô mang biển kiểm soát 38N1-216.12 và xe mô tô mang biển kiểm soát 81B1-397.88 n m phần đường bên phải đường tỉnh lộ 546 theo chiều từ xã T, tỉnh Hà Tĩnh đi xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 850/KL-HĐĐG ngày 08/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân tỉnh H, kết luận:

+ Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen đỏ, mang biển kiểm soát 38N1 - 216.12, tại thời điểm ngày 29/7/2025 trị giá thiệt hại là 1.613.000 đồng; Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xám, mang biển kiểm soát 81B1-397.88, tại thời điểm ngày 29/7/2025 trị giá thiệt hại là 2.677.000 đồng.

- Tại kết quả xét nghiệm nồng độ cồn, ma túy đối với Trần Thế V: Không có nồng độ cồn, chất ma túy trong cơ thể.

- Tại phiếu kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của ông Trần Văn B, đơn vị tính mg/100mL <10,9.

- Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H lập hồi 09 giờ 20 phút ngày 02/4/2025 tại Km21+480 Quốc lộ H thuộc tổ dân phố G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh phản ánh:

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã thu gi các vật chứng như sau:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu đen đỏ, biển kiểm soát 38N1-216.12, số máy JF63E2419171, số khung 6320KZ021805, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở h u hợp pháp của bị can Trần Thế V;

- 01 (một) Giấy phép lái xe số AU963974 cấp ngày 04/6/2012 (có giá trị không thời hạn) mang tên Trần Thế V.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu xám, biển kiểm soát 81B1-397.88, số máy JA02E0097853, số khung RLHJA0204YY097828, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở h u hợp pháp của ông Trần Văn B;

- 01 (một) giấy phép lái xe số 54343 hạng A1, cấp ngày 30/9/1995, có giá trị không thời hạn mang tên Trần Văn B, kèm theo hồ sơ vụ án.

Số vật chứng trên, hiện chưa được xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị can Trần Thế V đã tự nguyện bồi thường cho đại diện người bị hại là bà Nguyễn Thị D (vợ ông B) số tiền 105.000.000 đồng, đại diện người bị hại không có đơn yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 35/CT –VKSNX ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh) đã truy tố Trần Thế V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh v n gi nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Thế V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thế V từ 9 đến 12 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, còn đề xuất về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau c ng, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin l i gia đình bị hại, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất, được tự cải tạo, giáo dục tại cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1 Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện N(Nay là Cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2 Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 01/2025/NQQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân Tối Cao Hướng d n áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, vụ án thuộc thảm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

[3 Tại phiên tòa, v ng mặt đại diện hợp pháp cho người bị hại, và người làm chứng nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng mặt người làm chứng theo quy định tại 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4 Tại phiên tòa Trần Thế V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội ph hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 29/7/2025, Trần Thế V có giấy phép lái theo quy định điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38N1 - 216.12 khi đi đến Km12 + 630 là khu vực ngã tư giao nhau c ng mức gi a đường Tỉnh lộ 546 với đường liên thôn thuộc địa phận thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (ký hiệu W207a), nên phần bánh trước của xe mô tô do Trần Thế V điều khiển đã va chạm vào phần ốp giảm xóc phía trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88 do ông Trần Văn B điều khiển đi từ trong sân nhà bên phải sang bên kia đường. Hậu quả: Trần Văn B tử vong, do đa chấn thương. Xe mô tô biển kiểm soát 38N1-216.12 bị thiệt hại là 1.613.000 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 81B1-397.88 bị thiệt hại là 2.677.000 đồng.

[5 Hành vi điều khiển xe ô tô của Trần Thế V đã vi phạm quy định tại điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Khoản 3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây: ... b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...;d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ ...;

Hành vi của Trần Thế V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người;

Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Hà Tĩnh là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6 Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Đoạn đường xảy ra tai nạn được trải nhựa bằng ph ng, thông thoáng, không bị che khuất tầm nhìn trên đường, thời điểm xẩy ra tai nạn cũng không có yêu tố gì che khuất tầm quan sát. Bị cáo tham gia giao thông trong tình trạng tỉnh táo, trước đó không sử dụng chất kích thích, đáng lẽ bị cáo phải quan sát tầm nhìn phía hai bên đường nhưng do chủ quan không và khi ông B đi xe từ nhà lao ra mặc d ông B không quan sát và bản thân bị cáo cứ nghĩ ông B sẽ nhường đường cho nên khi xe bị cáo chạy quá gần với xe của ông B nên bị cáo không thể tránh kịp và đâm th ng trực diện vào xe và người ông B khiến ông B bị tử vong. Tai nạn giao thông xẩy ra, l i là của cả bị cáo và bị hại nhưng ông B đã mất nên bị cáo chủ yếu một phần cũng thuộc về bị cáo Trần Thế V. Vì vậy cũng cần phải xử bị cáo với một mức án nghiêm minh, đúng pháp luật là cần thiết để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7 Hành vi bị cáo thực hiện có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và cũng là nguyên nhân gây tai nạn giao thông d n đến hậu quả ông Trần Văn B tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên l i của bị cáo là vô ý. Vì vậy, Trần Thế V phải chịu mọi chế tài hình sự theo quy định của Pháp luật.

[8 Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; Đại diện cho người bị hại có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác trong vụ tai nạn giao thông này nạn nhân ông Trần Văn B cũng có một phần l i khi điều khiển xe mô tô không nhường đường tại nơi giao nhau quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật trật tư, an toàn giao thông đường bộ về nhường đường tại nơi giao nhau. Do đó, Trần Thế V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều Bộ luật Hình sự.

[9 Về hình phạt: Bị cáo phạm tội với l i vô ý, nhân thân tốt, sau khi tai nạn xảy ra đã tích cực kh c phục hậu quả, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đ i một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng d n áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử bị cáo dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện gia đình bị hại và đại diện Viện Kiểm Sát cũng là đủ nghiêm, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của P.

[10 Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 105.000.000đ (một trăm linh năm triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11 Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu đen đỏ, biển kiểm soát 38N1-216.12, số máy JF63E2419171, số khung 6320KZ021805, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở h u hợp pháp của bị cáo Trần Thế V;

- 01 (một) Giấy phép lái xe số AU963974 cấp ngày 04/6/2012 (có giá trị không thời hạn) mang tên Trần Thế V.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu xám, biển kiểm soát 81B1-397.88, số máy JA02E0097853, số khung RLHJA0204YY097828, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở h u hợp pháp của ông Trần Văn B;

- 01 (một) giấy phép lái xe số 54343 hạng A1, cấp ngày 30/9/1995, có giá trị không thời hạn mang tên Trần Văn B, kèm theo hồ sơ vụ án.

Số vật chứng trên, hiện chưa được xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Thế V đã tự nguyện bồi thường cho đại diện người bị hại là bà Nguyễn Thị D (vợ ông B) số tiền 105.000.000 đồng, đại diện người bị hại không có đơn yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

[12 Các nội dung khác có liên quan:

Nạn nhân ông Trần Văn B có một phần l i khi điều khiển xe mô tô không nhường đường tại nơi giao nhau quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật trật tư, an toàn giao thông đường bộ về nhường đường tại nơi giao nhau. Tuy nhiên, ông B đã chết nên không xem xét xử lý.

[13 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14 Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- p dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 32, khoản 1 Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; 1. Tuyên bố bị cáo Trần Thế V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 2. Xử phạt bị cáo Trần Thế V 9 (chín) tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thế V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Công an xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự:

- Trả lại cho Trần Thế V: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu đen đỏ, biển kiểm soát 38N1-216.12, số máy JF63E2419171, số khung 6320KZ021805, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy phép lái xe số AU963974 cấp ngày 04/6/2012 (có giá trị không thời hạn) mang tên Trần Thế V khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Trả lại cho đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị D (vợ ông B nạn nhân) 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu xám, biển kiểm soát 81B1-397.88, số máy JA02E0097853, số khung RLHJA0204YY097828, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở h u hợp pháp của ông Trần Văn B; 01 (một) giấy phép lái xe số 54343 hạng A1, cấp ngày 30/9/1995, có giá trị không thời hạn mang tên Trần Văn B khi bản án có hiệu lực pháp luật.

4.Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Trần Thế V phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: p dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ