vanban.org

Bản án 06/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ C.

Về hôn nhân: Bà Trần Mỹ C được ly hôn với ông Nguyễn Minh H. Về con chung: Bà Trần Mỹ C và ông Nguyễn Minh H có 03 người con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 14/6/2004, hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được; Nguyễn Cẩm M, sinh ngày 26/12/2011 và Nguyễn Minh V, sinh ngày 24/01/2014. Sau k…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Mỹ C - Nguyễn Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13-02-2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cảnh

Bà Trần Ngọc Diệu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ C, sinh năm: 1982 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã T2, huyện G, tỉnh B (nay là xã H, tỉnh V).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã T2, huyện G, tỉnh B (nay là xã H, tỉnh V).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Trần Mỹ C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh H quen biết, tìm hiểu, bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức đám cưới. Ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh L (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh T) vào ngày 20 tháng 6 năm 2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt, nuôi dạy con dẫn đến việc ông bà thường xuyên cự cãi; tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà đã nhiều lần khuyên can, chủ động hòa giải nhưng ông H vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay. Hiện tại, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà có đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Bà và ông H có 03 người con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 14/6/2004, hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được; Nguyễn Cẩm M, sinh ngày 26/12/2011 và Nguyễn Minh V, sinh ngày 24/01/2014. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Cẩm M, Minh V, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Bà và ông H không có con riêng, không có con nuôi.

- Về tài sản chung: Bà khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về về nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập nhưng bị đơn là ông Nguyễn Minh H đều vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự do không tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, các phiên hòa giải.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ C.

- Về hôn nhân: Bà Trần Mỹ C được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

- Về con chung: Bà Trần Mỹ C và ông Nguyễn Minh H có 03 người con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 14/6/2004, hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được; Nguyễn Cẩm M, sinh ngày 26/12/2011 và Nguyễn Minh V, sinh ngày 24/01/2014. Giao con chung là Cẩm V, Minh V cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận bà C không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình: Bà C phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Bà Trần Mỹ C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con chung với ông Nguyễn Minh H. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà C xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án: Ông Nguyễn Minh H là bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã T2, huyện G, tỉnh B (nay là xã H, tỉnh V) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C và ông H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

- Bà Trần Mỹ C và ông Nguyễn Minh H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh L (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh T) vào ngày 20 tháng 6 năm 2006 nên quan hệ hôn nhân của bà C và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

- Trong quá trình chung sống, theo bà C trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do ông H không quan tâm chăm lo cho cuộc sống cho gia đình, bà đã nhiều lần trao đổi nhưng ông H không khắc phục nên vợ chồng thường xuyên cải vã, từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà và ông H không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nữa. Bà C có yêu cầu được giải quyết cho được ly hôn với ông H.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã nhiều lần mời bà C và ông H đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng bà C xác định không còn tình cảm với ông H, kiên quyết xin ly hôn; ông H đều vắng mặt không có lý do.

Như vậy, trong quá trình chung sống, giữa bà C và ông H đã có phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tòa án nhiều lần mời bà C và ông H đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng bà C xác định không còn tình cảm với ông H, kiên quyết xin ly hôn; ông H đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ông H đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà C. Mặt khác, bà C và ông H đã sống ly thân thời gian dài nhưng đến nay cũng không hàn gắn được. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định bà C và ông H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C, bà C được ly hôn với ông H.

[2.2] Về con chung:

- Bà C và ông H chung sống với nhau có 03 con là Nguyễn Anh K, sinh ngày 14/6/2004, hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được; Nguyễn Cẩm M, sinh ngày 26/12/2011 và Nguyễn Minh V, sinh ngày 24/01/2014. Bà C có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Cẩm M, Minh V. Theo ý kiến của Cẩm M, Minh V đều có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với bà C. Hội đồng xét xử xét thấy để cho con chung của ông bà được ổn định về tâm lý, việc học tập, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con chung nên giao con chung của ông bà cho bà C được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi.

- Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bà C có quyền yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà C tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bà Trần Mỹ C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ các điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ C.

1. Về hôn nhân: Bà Trần Mỹ C được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

2. Về con chung: Bà Trần Mỹ C và ông Nguyễn Minh H có 03 người con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 14/6/2004, hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được; Nguyễn Cẩm M, sinh ngày 26/12/2011 và Nguyễn Minh V, sinh ngày 24/01/2014. Sau khi ly hôn, bà Châu là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Cẩm M, Minh V cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận bà C không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Minh H quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Trần Mỹ C phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004688 ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà C đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ