- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Bùi Thanh V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02-02-2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoà
2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Lễ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Công Bình, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Danh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Bùi Thanh V, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2025; các văn bản trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày:
Chị và anh Bùi Thanh V tìm hiểu, quen biết và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) ngày 25/9/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị đi làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng bất đồng trong sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra, anh V không lo làm ăn, hay đi nhậu, chị đã nhẫn nhịn, khuyên giải nhưng anh V bỏ mặc, không quan tâm gì đến những lời khuyên của chị. Năm 2022 anh V về quê sinh sống mãi đến nay, còn bản thân chị vẫn ở lại thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, nuôi 02 con.
Kể từ khi anh V về quê thì anh V và gia đình chồng có những lời nói xúc phạm, làm tổn thương đến mẹ con chị nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, phần ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình trạng hôn nhân đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Thanh V.
- Về con chung: Chị và anh Bùi Thanh V có 02 con chung là Bùi Phạm Thảo V1, sinh ngày 06/6/2013 và Bùi Phạm Thảo N, sinh ngày 26/5/2020. Hiện nay 02 con chung đang sống với chị, do chị trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao 02 con chung cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn anh Bùi Thanh V nhưng anh V không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không đến Tòa án làm việc và không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn anh Bùi Thanh V; về con chung: Giao 02 con chung Bùi Phạm Thảo V1, sinh ngày 06/6/2013 và Bùi Phạm Thảo N, sinh ngày 26/5/2020 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng cho con: Chị P không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Chị P trình bày không có nên không xem xét. Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Thị Phấn khởi K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Thanh V và yêu cầu giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi. Do đó, cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại thời điểm chị Phạm Thị Phấn khởi K thì bị đơn anh Bùi Thanh V có nơi cư trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Bùi Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Thị P và anh Bùi Thanh V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) ngày 25/9/2012. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh V là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình chung sống, giữa vợ chồng chị Phạm Thị P và anh Bùi Thanh V đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau từ năm 2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị P cương quyết yêu cầu được ly hôn anh V và có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải, đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với anh Bùi Thanh V, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác, anh V đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án nhưng từ chối ký vào biên bản giao nhận, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị P và cũng không tham gia phiên hòa giải và các phiên tòa nên có thể xác định anh Bùi Thanh V không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị P và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Phấn khởi K yêu cầu được ly hôn anh V là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các bên đương sự, có căn cứ xác định: Chị Phạm Thị P và anh Bùi Thanh V có 02 con chung là Bùi Phạm Thảo V1, sinh ngày 06/6/2013 và Bùi Phạm Thảo N, sinh ngày 26/5/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P yêu cầu giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi.
Xét yêu cầu về nuôi con của chị P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay 02 con chung của chị P và anh V đang sống cùng với chị P và do chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; quá trình giải quyết vụ án, anh V cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về việc nuôi con; đồng thời, cháu Bùi Phạm Thảo V1 là con chung đã trên 07 tuổi của chị P và anh V có văn bản trình bày nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đáp ứng theo nguyện vọng của cháu V1, cũng như để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho 02 con chung của chị P và anh V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con của chị Phạm Thị P, giao 02 con chung Bùi Phạm Thảo V1 và Bùi Phạm Thảo N cho chị P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng cho con: Chị P được giao trực tiếp nuôi 02 con chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị P trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung; anh V không có ý kiến trình bày về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Chị Phạm Thị P phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị P đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, các điều 144, 147, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn anh Bùi Thanh V.
2. Về con chung: Chị Phạm Thị P và anh Bùi Thanh V có 02 con chung là Bùi Phạm Thảo V1, sinh ngày 06/6/2013 và Bùi Phạm Thảo N, sinh ngày 26/5/2020.
Giao 02 con chung Bùi Phạm Thảo V1 và Bùi Phạm Thảo N cho chị Phạm Thị P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh Bùi Thanh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về cấp dưỡng cho con: Chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Phạm Thị P phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001266 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
7. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND KV 6 – Quảng Ngãi; - THADS tỉnh Quảng Ngãi; - UBND phường Đức Phổ; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. Các thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Phong Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |