- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Tranh chấp chia tài sản chung"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 9 Điều 26, các Điều 147, 157,165, 227, 228 của Bộ lu t tố tụng dân sự, sửa đổi ổ sung năm 2025; Các Điều 401, 465, 467 Bộ lu t dân sự 2005; các Điều 46, 49, 106, 107 và 113 Lu t đất đai năm 2003.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/DS-ST Ngày: 05/02/2026 V/v:tranh chấp chia tài sản chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Hoàng Anh 2. Ông Lâm Hải Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Liễu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Hào - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30/12/2025 và 05/02/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024, về việc:“Tranh chấp chia tài sản chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 74/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: à Cao Thị Xuân M, sinh năm 1953. Địa chỉ: 149C, đư ng
Nguyễn Chí Thanh, phư ng Thanh Đ c, tỉnh Vĩnh Long (v ng mặt).
Người đại di n h p pháp của nguyên đơn là à Lê Thị Minh H, sinh năm 1976. Địa chỉ: số I, đư ng N, phư ng L, tỉnh Vĩnh Long ( theo văn ản ủy quyền ngày 10/6/2022) và à Lê Minh Mai T, sinh năm 1973. Địa chỉ: 7, N, phư ng L, tỉnh Vĩnh Long (theo văn ản ủy quyền ngày 22/12/2025) ( à H và bà M có mặt).
Bị đơn: ông Cao Thanh H1, sinh năm 1961. Địa chỉ: số G, tổ E, ấp C , xã N, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).
Người đại di n h p pháp của bị đơn Cao Thanh H1 là ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A, đư ng N, phư ng L, tỉnh Vĩnh Long ( theo văn ản ủy quyền ngày 04/3/2024) ( có mặt). Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Xuân H2, sinh năm 1951. Địa chỉ: A T, San Jose C, 95121 USA ( xin v ng mặt).
- Bà Cao Kim P, sinh năm 1943. Địa chỉ: số G South Clarita C, LasVegas, N, 89139 USA (xin v ng mặt).
- Bà Cao Thị H3, sinh năm 1956. Địa chỉ: số C L, Stosct S, USA ( xin v ng mặt).
- Cao Hoàng H4. Địa chỉ: số G w Eugie ave Peoria A, USA ( xin v ng mặt).
- C (v ng mặt)
- Cao Thị Ngọc T2 (v ng mặt) C ng địa chỉ: số B H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cao Minh T3, sinh năm 1963 (v ng mặt)
- Cao Cẩm T4, sinh năm 1964 (v ng mặt) C ng địa chỉ: số H, Dương Bá T5, phư ng C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cao Thị Kim X, sinh năm 1974. Địa chỉ: số I, B, đư ng B, khu dân cư E, phư ng H, thành phố Cần Thơ (v ng mặt). -Bà Nguyễn Thị Kim X1, sinh năm 1949 ( xin v ng mặt) -Cao Thị Kim P1 ( Cao Thị Xuân P2), sinh năm 1980
C ng địa chỉ: ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long Ngư i đại diện hợp pháp của Cao Thị Kim P1 là bà Nguyễn Thị Kim X1 ( có đơn xin v ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi ki n ngày 06/7/2023, đơn khởi ki n bổ sung 20/10/2023 và đơn khởi ki n bổ sung không ngày tháng năm 2024 của nguyên đơn bà Cao Thị Xuân M và trong quá trình tham gia tố tụng bà Lê Thị Minh H là người đại di n h p pháp của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của nguyên đơn là cụ Cao Văn C (chết 1978) và cụ Nguyễn Thị L (chết năm 2012), có 08 ngư i con chung gồm:
1.Cao Hoàng M1 (chết năm 2015), có vợ đã chết và 04 ngư i con là Cao Thu T6, Cao Minh T3, Cao Cẩm T4 và Cao Thị Ngọc T2; 2.Cao Hoàng L1 (chết năm 2018) có vợ là Nguyễn Thị Kim X1 và có 02 ngư i con là Cao Thị Kim P1 ( Cao Thị Xuân P2) và Cao Hoàng V. 3.Bà Cao Kim P, sinh năm 1943; 4.Bà Cao Thị Xuân M, sinh năm 1953; 5.Bà Cao Xuân H2, sinh năm 1951; 6.Bà Cao Thị H3, sinh năm 1956; 7.Ông Cao Hoàng H4, sinh năm 1958; 8.Ông Cao Thanh H1, sinh năm 1961; Cụ C và cụ L không có ngư i th a kế nào khác
Di sản cụ C và cụ L để lại là thửa đất số 186, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long). Trên thửa đất có căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 300m2, kết cấu vách tư ng, mái lợp ngói và tol, cột xi măng, nền lót gạch men và một số cây trồng gồm có: ưởi, nhãn, măng cụt, sầu riêng, m n do à M trồng.
Ngày 26/3/2000 cụ L viết di ch c để lại diện tích đất 7830m2 cho các anh, chị em của à M. Riêng à M được cụ L cho 2170m2 thuộc thửa đất số 186 nêu trên. Sau khi cụ L chết, à M đến gặp ông H1 để làm thủ tục th a kế quyền sử dụng đất theo di ch c của cụ L để lại thì ông H1 cho iết khi cụ L còn sống, ông H1 có nh cụ L vay tiền Ngân hàng và đang thế chấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, ch ông H1 trả nợ lấy giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ra rồi làm thủ tục tách thửa sang tên, ông H1 hẹn lần này đến lần khác, nhưng không thực hiện. Sau đó ông H1 có th a nh n là khi cụ L còn sống, ông H1 mượn quyền sử dụng đất để làm thủ tục ảo đảm cho con trai ông H1 đi nư c ngoài nên cụ L đã sang tên cho ông H1 và giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất c ng đang thế chấp cho Ngân hàng. Khi nào chuộc giấy ra s tách phần cho mỗi ngư i theo di ch c của cụ M. Nhưng sau đó ông H1 không thực hiện theo l i h a nên à M khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Cao Thanh H1 phải tách cho à Cao Thị Xuân M diện tích đất 2170m2 do cụ Nguyễn Thị L để lại. Trư ng hợp ông H1 không đồng ý thì à M yêu cầu Tòa án giải quyết uộc ông H1 trả cho à M phần tài sản của cụ Cao Văn C để lại trong khối tài sản chung chưa chia mà cụ Nguyễn Thị L đã tặng cho ông H1.
êu cầu ông Cao Thanh H1 hoàn trả cho à M số tiền 70.000.000đ là tiền trư c đây à gửi về mua cây, thuê ngư i trồng cây, nhổ c , ơm cát cải tạo vư n hiện nay ông H1 đang quản lý, sử dụng.
Trong trư ng hợp chia ng giá trị thì yêu cầu được nh n thửa đất số 186, diện tích 7830m2, tọa lạc tại tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bà M s trả giá trị cho những ngư i thuộc hàng th a kế th nhất của cụ Chí phần mà họ được hưởng v i giá đất 500.000đ/m2. Căn nhà trên thửa đất thì à M ư c tính giá trị khoảng 240.000.000đ, yêu cầu được nh n căn nhà để th c ng cha mẹ và trả giá trị cho những ngư i được hưởng th a kế mỗi k phần là 40.000.000đ, không hỗ trợ chi phí đóng góp hoặc chi phí quản lý di sản cho ông H1, vì ông H1 không có công s c đóng góp vào di sản.
Đến ngày hòa giải 04/11/2025 à Lê Thị Minh H đại diện cho nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu như sau:
1/ Hưởng th a kế tách thửa đất 443-1, diện tích 403,1m2 loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long theo chỉ ranh đo đạc thực tế của à M.
(Phần đất còn lại thửa 443-2, diện tích 2363,3m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm và căn nhà trên đất thống nhất giao cho ông Cao Thanh H1 quản lý sử dụng, không tranh chấp).
2/ êu cầu ông Cao Thanh H1 hoàn trả cho à Cao Thị Xuân M số tiền
70.000.000đ tiền trư c đây à M chi phí ơm cát trên thửa đất 443.
Thống nhất v i kết quả đo đạc ngày 21/7/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V và thống nhất iên ản định giá tài sản ngày 04/3/2025, giá đất trồng cây lâu năm là 1.365.487đ/m2, đất ở tại nông thôn là 2.635.500đ/m2.
Bị đơn ông Cao Thanh H1 có ông Nguyễn Minh T1 là người đại di n h p pháp trình bày:
Ông H1 thống nhất về cha mẹ, hàng th a kế như nguyên đơn trình ày ở trên. L c còn sống cụ Nguyễn Thị L có quản lý, sử dụng thửa đất 156, t ản đồ số 0005, diện tích 7.830m2 loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, trên đất có căn nhà, trư c đây là nhà c nền gạch tàu, vách ván mái ngói xưa, năm 1986 có sửa lại nền gạch ông, tiền sửa chữa nhà do à Cao Kim P, bà Cao Kim H5, bà Cao Xuân H2, Cao Hoàng H4 gửi về cho cụ L và ông H1 làm. Năm 2000 ông H1 cất thêm nhà phía sau và sửa lại nền nhà gạch tráng men, cụ L được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 18/7/1991.
Ông H1 là con t sống chung v i cha mẹ t nh đến l n và chăm sóc cha mẹ, sau khi cụ Chí C1, ông H1 và cụ L c ng quản lý đất đai, chăm sóc cụ L cho đến khi chết và hiện nay ông H1 th c ng cha mẹ. Trư c đây cụ L có cho đất ruộng 03 ngư i là Cao Hoàng M1 ( đã chết) 03 công; Cao Hoàng L1 ( đã chết) 03 công và Cao Thị Xuân M 2,5 công đất ruộng. Phần đất này các anh chị đã chuyển nhượng cho ngư i khác. Ông H1 được iết năm 2000 cụ L có l p di ch c phân chia đất cho các con. Nhưng do bà Cao Thị Xuân M kêu ngư i để án đất cụ L không đồng ý nên đã họp mặt gia đình có mặt các con và l p một di ch c về việc th a kế tài sản vào ngày 15/2/2005 giao toàn ộ thửa đất 156 và căn nhà trên đất cho ông H1 quản lý, sử dụng các anh chị em ông H1 thống nhất ký tên đầy đủ.
Đến năm 2006 cụ L quyết định cho ông H1 toàn ộ nhà và thửa đất 156 nên cụ L đã c ng ông H1 đến Ủy an nhân dân xã M hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối v i thửa đất 156, t ản đồ số 0005, diện tích 7.830m2 loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, được Ủy an nhân dân xã M ch ng thực ngày 20/9/2006. Ông H1 đăng ký và được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 30/7/2015 là thửa đất 150, t ản đồ số 1, diện tích 7.287,3m2 loại đất ở và trồng cây lâu năm. Năm 2021 ông H1 đã chuyển nhượng một phần đất thuộc thửa 150 cho cháu Cao Minh T3 ( con ông Cao Hoàng M1), diện tích chuyển nhượng là 4.484m2, loại đất trồng cây lâu năm, hợp đồng chuyển nhượng l p tại Ủy an nhân dân xã M, ch ng thực ngày 14/01/2021, số tiền chuyển nhượng là 800.000.000đ, anh T3 đã nh n đất cất nhà ở. Sau khi chuyển nhượng đất cho Cao Minh T3 thì ông H1 đã tự nguyện cho Cao Kim P, Cao Thị Xuân M, Cao Thu H6 và Cao Hoàng H4 mỗi ngư i 3.000 USD tại điểm này có giá tương đương 70.000.000đ, trong đó phần cho à M do bà M nợ à H6 nên ông H1 trả cho bà H6 mà không giao cho bà M. Hiện nay phần đất còn lại ông H1 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 26/4/2021 thửa số 443, t ản đồ số 1, diện tích 2803,3m2 ( đất ở 300m2, đất trồng cây lâu năm 2303,3m2), trên đất có căn nhà cấp 4 do ông H1 đã sửa chữa, 02 ngôi mộ của cụ C và cụ L và một số cây trồng như d a, chuối do ông H1 trồng.
Ông H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của à M, vì ông H1 đã được cụ L cho đất t năm 2006, đến khi ông H1 chuyển nhượng đất cho Cao Minh T3 c ng đã có chia tiền cho các anh chị em như đã nêu trên. Đối v i số tiền 70.000.000đ à M yêu cầu ông H1 trả tiền san lấp, tại Ủy an dân xã M tình nghĩa chị em nên ông H1 đồng ý trả cho à M số tiền 50.000.000đ, nhưng à M không đồng ý. Nay ông H1 chỉ đồng ý hỗ trợ cho à M số tiền 30.000.000đ.
Những người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2024 của Tòa án, bà Cao Thị H3 ( Cao Thi H7) trình bày:
Bà thống nhất về cha mẹ và hàng th a kế như nguyên đơn, ị đơn trình ày. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của cha mẹ à để lại, không nh th i gian khi à về thăm cha mẹ à thì có nghe mẹ là cụ L nói lại cho à M 02 công đất và có làm giấy nh các ch làm ch ng, nhưng không iết giấy đó ai quản lý. Do tin tưởng ông H1 nên bà M không yêu cầu tách thửa, sang tên, sau này do ông H1 không đồng ý giao đất cho à M nên xảy ra tranh chấp. Bà không iết cha mẹ để lại thửa đất số mấy, chỉ iết diện tích khoảng 08 công do ông H1 quản lý. Nếu xác định phần đất tranh chấp là di sản th a kế thì à yêu cầu được hưởng 01 k phần th a kế theo quy định của pháp lu t và đồng ý cho lại à M, không yêu cầu à M hoàn trả giá trị. Ông H1 cho r ng khi chuyển nhượng đất cho Cao Minh T3 có cho anh chị em mỗi ngư i 70.000.000đ là không có, à không có nh n tiền của ông H1. Đối v i căn nhà trên đất à không yêu cầu chia th a kế để th c ng cha mẹ. Do ở xa nên à không tham gia tố tụng được, xin v ng trong suốt quá trình tố tụng ( sơ thẩm, ph c thẩm) cam kết không có khiếu nại gì về sau.
Tại bản khai ý kiến ngày 22/7/2024 ông Cao Hoàng H4 trình bày ( văn bản có h p pháp hóa lãnh sự):
Ông là con ruột của cụ Nguyễn Thị L ( chết 2012) và cụ Cao Văn C ( chết năm 1978), cha mẹ ông có 08 ngư i con như nguyên đơn, ị đơn trình ày. Trong th i kỳ hôn nhân cha mẹ ông có tạo l p được tài sản chung là thửa đất số 186, diện tích 7830m2 đất ở và đất trồng cây lâu và một căn nhà cấp 4 n m trên đất, diện tích xây dựng nhà 300m2. Khi cụ Chí C1 không có l p di ch c, sau đó cụ L đ ng tên tài sản v a nêu. Trên đất có cây trồng ưởi, nhãn, măng cụt, sầu riêng, xoài m n do à M trồng, còn lại do cụ L thuê trồng. Ngày 26/3/2000 cụ L viết di ch c để lại tài sản cho hai anh, chị M và H1, cho chị M được hưởng 2170m2 thửa 186, t khi à M được cho phải thuê ngư i làm vư n, mua cây giống, trồng cây, ơm cát, cải tạo mảnh vư n.
Sau đó ông H1 mượn tài sản của cụ L để đảm ảo tài chính cho con đi du học nư c ngoài , ông H1 yêu cầu cụ L ký tặng cho thửa đất, cụ L đồng ý v i điều kiện không được án. Đến nay H1 không chuyển cho à M phần đất mà cụ L đã cho. Nay ông đồng ý v i yêu cầu khởi kiện của à M là ông H1 phải tách cho bà M phần đất 2170m2 trong phần tài sản của cụ C để lại. ông yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp lu t, vì ở xa ông xin phép được v ng mặt, không nh n th a kế, ông gửi tặng phần của ông cho à M.
Bà Cao Xuân H2 và bà Cao Kim P trình bày tại bản khai ý kiến ngày 15/6/2024 ( có h p pháp hóa lãnh sự):
Cha mẹ và ngư i th a kế thống nhất giống như nguyên đơn, ị đơn trình bày. Sau khi cụ Chí C1, cụ L và các con c ng sinh sống trong căn nhà trên thửa đất số 156, t ản đồ số 0005, diện tích 7830m2 loại đất thổ, quả, tọa lạc tại số G, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định của Bộ lu t dân sự Việt Nam thì th i hạn chia th a kế tối đa là 30 năm về ất động sản. Cha của các đương sự chết đã trên 40 năm, như v y việc đòi chia th a kế của nguyên đơn là vô th i hiệu. Do đó tài sản trên thuộc về ngư i đang quản lý là Cao Thanh H1 thụ hưởng. Năm 2000 cụ L có h a cho Cao Thị Xuân M phần đất vư n là 02 công, nhưng sau đó cụ L đổi ý, năm 2005 nhân dịp các đương sự về thăm mẹ, cụ L đã làm lại di ch c để toàn ộ tài sản cho Cao Thanh H1 là ngư i duy nhất ở lại trong căn nhà th để lo hương khói cho cha mẹ. Vào th i điểm đó anh chị em và bà M đều đồng ý ký tên.
Năm 2006 cụ L làm giấy tặng cho ông H1 nhà và phần đất thổ quả diện tích 7830m2, ngày 27/9/2006 có quyết định của Sở tài nguyên và môi trư ng tỉnh V ký xác nh n cho Cao Thanh H1 là chủ sở hữu. Về phần Cao Hoàng M1 và Cao Hoàng L1 cụ L đã cho mỗi ngư i 03 công đất ruộng để canh tác, sau đó họ đã án cho hai ngư i lối xóm.
Vào năm 2021 ông H1 chuyển nhượng phần đất cho cháu Cao Minh T3 ( con Cao Hoàng M1) và có gửi cho chị em mỗi ngư i 3000 USD, trị giá 70.500.000đ. Các anh chị em nh n đầy đủ, riêng à Cao Xuân H2 không nh n vì để cho ông H1 lo sửa sang nhà th cha mẹ. Do đó à H2 và bà P không chấp nh n việc chia th a kế và không có tranh chấp th a kế trong vụ án này. Do ở xa không thể về tham dự trong tất cả các cấp giải quyết và c ng không yêu cầu nh n văn ản tố tụng của Tòa án.
Cao Thị Ngọc T2 (con của ông Cao Hoàng M1 ) có bản khai ngày 06/11/2024 trình bày: Trong đơn kiện thì cụ Cao Văn C và cụ Nguyễn Thị L có để lại di sản là thửa đất số 186, diện tích 7830m2, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1978 khi chết cụ C không để lại di ch c và 08 ngư i con không ai t chối nh n th a kế di sản này. Đến ngày 15/02/2005 thì cụ L l p di ch c để lại toàn ộ thửa đất cho ông H1 là con trai t là ngư i th a kế trông coi toàn ộ tài sản, tuyệt đối không được mua án, trao đổi, sang nhượng , cầm cố hoặc ất c hình th c nào. Theo à T2 thì khi ngư i vợ hoặc chồng chết trư c mà không làm di ch c thì các con được chia đều phân nữa di sản đó. Như v y ông H1 chỉ được quyền nh n nữa tài sản của cụ L nếu di ch c đó đ ng và hợp pháp. Phân nữa di sản của cụ C thì 08 ngư i con có quyền được hưởng hợp pháp. Nay à T2 đại diện cho các con của ông Cao Hoàng M1 đồng ý nh n di sản th a kế của ông Cao Văn C để lại. Bà Nguyễn Thị Kim X1 trình bày tại bản tự khai ngày 21/01/2026: Bà và các con của à khẳng định không có ất c yêu cầu gì trong vụ án, đồng th i không có kiến nghị hoặc th c m c gì về sau và có đơn xin v ng mặt.
Các đương sự Cao Thu T6, Cao Minh T3, Cao Cẩm T4, Cao Thị Kim X không tham gia giải quyết vụ án nên không có l i trình ày.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà Lê Thị Minh H là ngư i đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình ày: nguyên đơn à Cao Thị Xuân M xác định lại phạm vi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu chia th a kế di sản của cụ C và cụ L mà yêu cầu chia tài sản chung của cụ C để lại trong sản chung v i cụ L thuộc thửa đất số 443, không yêu cầu được chia diện tích 2170m2 như an đầu khởi kiện. Nay à M có 02 yêu cầu: một là yêu cầu ông H1 giao cho bà M tách thửa đất số 443-1, diện tích 403,4m2, loại đất trồng cây lâu năm và hai là uộc ông H1 phải trả lại cho à M tiền ơm cát lên thửa đất 443 v i số tiền là 70.000.000đ.
Ông Nguyễn Minh T1 là ngư i đại diện hợp pháp của ị đơn ông Cao Thanh H1 không đồng ý yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn, vì thửa đất 443 là của riêng cụ L đã tặng cho ông H1 t năm 2006, không phải tài sản chung của cụ C và cụ L, nếu là tài sản chung của hai cụ thì phải có văn ản th a thu n của các anh chị em th a nh n là tài sản chung. Nay ông H1 chỉ đồng ý hoàn trả bà M tiền ơm cát 50.000.000đ.
Ngư i làm ch ng à Phạm Hồng T7 trình ày: à có họ hàng v i nguyên đơn và ị đơn, à chăm sóc cụ L th i gian t năm 2005 đến 2010 thì nghĩ, trong th i gian chăm sóc cụ L à có nghe cụ L nói lại là cho à M hơn 2 ngàn mét vuông đất, à có thấy à M cặm trụ đá, đem cây về trồng như sầu riêng, măng cụt và chính à là ngư i chăm sóc cây d m cho à M. Sau năm 2010 à không còn ở chăm sóc cụ L nên không iết sự việc xảy ra như thế nào.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký thực hiện đ ng các quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự.
Các đương sự có mặt thực hiện đ ng các quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn c vào Điều 147, 157, 165 Bộ lu t tố tụng dân sự 2015; Điều 624, Điều 459 Bộ lu t dân sự năm 2015; Điều 2 Lu t ngư i cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của à Cao Thị Xuân M
Buộc ông Cao Thanh H1 trả cho à Cao Thị Xuân M số tiền ơm cát là 50.000.000 đồng.
Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của à Cao Thị Xuân M về việc yêu cầu được hưởng th a kế thửa 443-1, diện tích 403,1m2 loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản, đo đạc: tổng cộng số tiền 5.370.000 đồng. Bà M phải chịu số tiền 2.685.000 đồng. Ông H1 phải chịu số tiền là 2.685.000 đồng.
Về án phí: Bà M và ông H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trư ng hợp ngư i cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào tài liệu, ch ng c được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: bà Cao Thị Xuân M khởi kiện yêu cầu chia di sản th a kế của cha mẹ để lại là quyền sử dụng đất, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long.Vụ án có ông Cao Hoàng H4, Cao Kim P, Cao Thị H3 và Cao Xuân H2 là ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan định cư ở nư c ngoài, do vụ án thụ lý t ngày 29/01/2024, theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hư ng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nh n nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Về thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện ổ sung của nguyên đơn yêu cầu chia th a kế di sản của cụ C và cụ L để lại 2170m2 đất thuộc thửa 156 (thửa m i 443), diện tích chung 7830m2, đất ở và đất trồng cây lâu năm, do ông Cao Thanh H1 đ ng tên quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa à Lê Thị Minh H là ngư i đại diện hợp pháp của nguyên đơn à Cao Thị Xuân M thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu chia th a kế mà yêu cầu chia tài sản chung của cụ C để lại trong sản chung v i cụ L là thửa đất số 443. êu cầu ông H1 giao cho bà M tách thửa đất số 443-1, diện tích 403,4m2, loại đất trồng cây lâu năm. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của à M ph hợp v i Điều 5 của Bộ lu t tố tụng dân sự và không vượt quá phạm vi khởi kiện an đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nh n.
Về quan hệ pháp lu t: à M khởi kiện yêu cầu chia th a kế di sản của cha mẹ để lại, tuy nhiên tại phiên tòa à H đại diện cho à M thay đổi yêu cầu là chia tài sản chung, không yêu cầu chia th a kế. Do đó quan hệ pháp lu t được xác định là “Yêu cầu chia tài sản chung”.
Về việc v ng mặt đương sự: các đương sự à Cao Xuân H2, bà Cao Thị H3, bà Cao Kim P, ông Cao Hoàng H4, Cao Thị Ngọc T2; Nguyễn Thị Kim X1 đều có đơn xin v ng mặt. Cao Thu T6, Cao Minh T3, Cao Cẩm T4 và Cao Thị Kim X không tham gia giải quyết vụ án, triệu t p tham gia phiên tòa lần th hai đều v ng mặt không có lý do. Căn c Điều 227 và 228 Bộ lu t tố tụng dân sự, sửa đổi ổ sung năm 2025, Tòa án xét xử vụ án v ng mặt các đương sự.
Về việc nguyên đơn yêu cầu triệu t p ngư i làm ch ng:
Tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn yêu cầu đưa à Phạm Hồng T7 tham gia tố tụng v i tư cách ngư i làm ch ng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn ph hợp quy định tại Điều 77 của Bộ lu t tố tụng dân sự nên được chấp nh n.
Nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung của cụ C để lại trong tài sản chung v i cụ L là thửa đất 443, cụ thể yêu cầu ông H1 giao cho bà M tách thửa đất 443-1, diện tích 403,1m2, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long. Bị đơn cho r ng phần đất tranh chấp là của riêng cụ L đã tặng cho ông H1 vào năm 2006, không phải là tài sản chung của cụ C và cụ L nên không chấp nh n yêu cầu của nguyên đơn.
Xét thấy, tài sản cụ C và cụ L là thửa đất số 156, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long). Trên thửa đất có căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 300m2, kết cấu vách tư ng, mái lợp ngói và tol, cột xi măng, nền lót gạch men và một số cây trồng gồm có: ưởi, nhãn, măng cụt, sầu riêng, m n hiện nay do ông H1 đang quản lý, sử dụng.
Ngày 26/3/2000 cụ L viết t di ch c có 2 ngư i làm ch ng và có ch ng thực của UBND xã M để lại diện tích đất 7830m2 cho các con cụ thể: ông Cao Hoàng M1 được hưởng diện tích 1200 m2, ông Cao Hoàng L1 được hưởng diện tích 1275 m2, bà Cao Thị Xuân M được hưởng diện tích 2.170 m2, ông Cao Thanh H1 được hưởng diện tích 3.185 m2.
Ngày 17/6/2005 cụ Nguyễn Thị L có đơn xin hủy di ch c l p ngày 26/3/2000 có xác nh n của trưởng ấp C ngày 21/6/2005.
Ngày 19/9/2006 cụ Nguyễn Thị L l p hợp đồng tặng cho con là ông Cao Thanh H1 thửa đất số 156, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long) có ch ng thực của UBND xã M. Ông Cao Thanh H1 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 41, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 04/10/2006.
Năm 2015 ông H1 đăng ký cấp đổi thửa đất 41 thành thửa 150, ông H1 và vợ Hoàng Lệ T8 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 150, t ản đồ số 1, diện tích 7287,3m2 loại đất ở và trồng cây lâu năm vào ngày 30/7/2015. Năm 2021 ông H1 và bà T8 đã chuyển nhượng một phần diện đất thuộc thửa 150 cho cháu ruột Cao Minh T3, diện tích chuyển nhượng là 4.484m2, loại đất trồng cây lâu năm, hợp đồng chuyển nhượng l p tại Ủy an nhân dân xã M, ch ng thực ngày14/01/2021,số tiền chuyển nhượng là 800.000.000đ. Anh T3 đã nh n đất cất nhà ở.
Hiện nay phần đất còn lại ông H1 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 26/4/2021 thửa số 443, t ản đồ số 1, diện tích 2803,3m2 ( trong đó có 300m2 đất ở, đất trồng cây lâu năm 2303,3m2), trên đất có căn nhà cấp 4 do ông H1 đã sửa chữa, 02 ngôi mộ của cụ C và cụ L và một số cây trồng như d a, chuối do ông H1 trồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu được chia tài sản chung là diện tích đất 403,1m2, thuộc tách 443-1, loại đất trồng cây lâu năm, xét thấy: Cụ Cao Văn C (chết 1978), các đồng th a kế thống nhất cho cụ Nguyễn Thị L kê khai đăng ký và được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 156, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long) ngày 18/7/1991. Như v y thửa đất 156 nêu trên được xác định là tài sản riêng của cụ Nguyễn Thị L.
Năm 2000 cụ L có l p di ch c chia thửa đất 156 cho các con, trong đó à Cao Thị Xuân M được cho diện tích 2170m2, nhưng ngày 17/6/2005 cụ L có đơn xin hủy di ch c. Đến ngày 19/9/2006 cụ L l p hợp đồng tặng cho con t là ông Cao Thanh H1 toàn ộ thửa đất số 156, diện tích 7830m2, loại đất thổ quả, tọa lạc tổ E, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long), hợp đồng có ch ng thực của UBND xã M và ông H1 đã được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 41, diện tích 7830m2 vào ngày 04/10/2006, điều này thể hiện cụ L đã thay đổi ý kiến, ý chí của cụ L là tặng cho ông H1 toàn ộ thửa đất 156 nên di ch c cụ L l p ngày 26/3/2000 không còn hiệu lực.
Mặt khác, t trư c cho đến nay ông H1 là ngư i quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp trên và kê khai đăng ký, thực hiện các thủ tục cấp đổi giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất c ng như việc ông H1 chuyển nhượng một phần thửa đất cho cháu ruột là Cao Minh T3, nhưng c ng không có ai tranh chấp hay ngăn cản việc chuyển nhượng này. Tại phiên tòa à T6 đại diện cho à M th a nh n năm 2006 khi cụ L tặng cho ông H1 thửa đất à M iết và năm 2021 ông H1 và bà T8 ký chuyển nhượng cho ông T3, bà M c ng iết nhưng không tranh chấp v i ông H1. Điều này ch ng t các ên đều iết khi còn sống cụ L đã tặng cho ông H1 toàn bộ thửa đất 156 (443) cho nên quá trình sử dụng ông H1 đã thực hiện rất nhiều iến động đối v i thửa đất 156, nhưng phía nguyên đơn c ng không ngăn cản tranh chấp gì v i ông H1.
Nguyên đơn cho r ng cụ L cho 2170m2 đất t năm 2000, nhưng tại sao t
khi được cho đất đến khi cụ L chết là năm 2012 th i gian khá dài nguyên đơn không yêu cầu cụ L l p thủ tục tặng cho để à M được đ ng tên quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không cung cấp được ch ng c ch ng minh cụ L cho bà M đất. Đối v i hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị L và ông Cao Thanh H1 l p ngày 19/9/2006, hợp đồng được l p thành văn ản, thể hiện đầy đủ thông tin của các ên, thửa đất, khi tặng cho cụ L đã được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất và hợp đồng được Ủy an nhân dân xã M ch ng thực ngày 20/9/2006 là đ ng quy định tại Điều 467 Bộ lu t dân sự năm 2005. Xét về hình th c và nội dung của hợp đồng được thực hiện đ ng theo quy định tại các Điều 722, 723, 724, 725 của Bộ lu t dân sự 2005. Sau khi được tặng cho đất ông H1 thực hiện nghĩa vụ kê khai, đăng ký và thực hiện nghĩa vụ của ngư i sử dụng đất theo quy định của pháp lu t về đất đai. Đến ngày 04/10/2006 ông H1 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 41, diện tích 7838,1m2, đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Ông H1 đăng ký iến động đất đai, đến ngày 30/7/2015 thì ông H1 và vợ là Hoàng Lệ T8 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Khi ông H1 và bà T8 được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất nguyên đơn c ng không có khiếu nại hay tranh chấp. Năm 2017 ông H1 thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng TMCP K nguyên đơn c ng không khiếu nại. Như v y thửa đất tranh chấp là của cụ L đã tặng cho ông H1 t năm 2006 thuộc quyền sử dụng của ông H1, không phải là tài sản chung của cụ C và cụ L, do đó không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của à M về việc uộc ông H1 phải giao cho à mai tách thửa đất 443-1, diện tích 403,1m2, đất trồng cây lâu năm. [9] Xét yêu cầu của à M uộc ông H1 hoàn trả số tiền ơm cát 70.000.000đ, xét thấy: trong quá trình giải quyết vụ án à M không cung cấp được ch ng c ch ng minh đã ơm cát vào thửa đất 443 v i số tiền là 70.000.000đ. Tuy nhiên tại phiên tòa ông H1 th a nh n à M có ơm cát vào thửa đất 443, nhưng ông H1 chỉ đồng ý hoàn trả à M số tiền 50.000.000đ. Do đó uộc ông Cao Thanh H1 có nghĩa vụ giao trả cho à M tiền ơm cát 50.000.000đ là ph hợp. [10] Xét l i trình ày của ngư i làm ch ng à Phạm Hồng T7, xét thấy:
Bà T7 có họ hàng v i nguyên đơn và ị đơn. Tại phiên tòa à T7 trình bày việc cụ L l p di ch c hoặc gia đình cụ L họp àn ạc là chuyện riêng của gia đình cụ L, à không có tham gia, tuy nhiên à có nghe cụ L nói lại là cụ L có cho bà M hơn 02 công đất. Xét l i trình ày của à T7 là không có căn c , vì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải tuân theo quy định của pháp lu t hoặc à M xuất trình được tài liệu ch ng c để ch ng minh cụ L cho đất, trong trư ng hợp này l i trình ày của ngư i làm ch ng không có giá trị để ch ng minh nên không có cơ sở chấp nh n. [11] T những nh n định trên, Hội đồng xét xử chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của à Cao Thị Xuân M, uộc ông H1 giao trả à M số tiền ơm cát 50.000.000đ. Không chấp nh n yêu cầu của à M uộc ông H1 giao tách thửa đất 443-1, diện tích 403,1m2, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long cho bà M.
Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản tổng cộng là 5.370.000đ, uộc ông H1 và bà M mỗi ngư i phải chịu ½ là 2.685.000đ. Do à M đã nộp tạm ng trư c nên uộc ông H1 phải hoàn trả à M số tiền 2.685.000đ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: căn c Điều 147 của Bộ lu t tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thư ng vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điều 2 Lu t ngư i cao tuổi. Nguyên đơn và ị đơn là ngư i cao tuổi được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 9 Điều 26, các Điều 147, 157,165, 227, 228 của Bộ lu t tố tụng dân sự, sửa đổi ổ sung năm 2025; Các Điều 401, 465, 467 Bộ lu t dân sự 2005; các Điều 46, 49, 106, 107 và 113 Lu t đất đai năm 2003.
Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hư ng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nh n nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Điều 2 Lu t ngư i cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của à Cao Thị Xuân M;
Buộc ông Cao Thanh H1 có nghĩa vụ giao trả cho à Cao Thị Xuân M số tiền ơm cát là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
2. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của à Cao Thị Xuân M về việc yêu cầu ông Cao Thanh H1 giao cho bà M tách thửa đất 443-1,diện tích 403,1m2, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
3.Về chi phí tố tụng: uộc ông Cao Thanh H1 có nghĩa vụ hoàn trả à Cao Thị Xuân M số tiền 2.685.000đ ( hai triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
4.Về án phí dân sự sơ thẩm: à Cao Thị Xuân M và ông Cao Thanh H1 được miễn nộp án phí do thuộc trư ng hợp ngư i cao tuổi.
Kể t ngày ản án, quyết định có hiệu lực pháp lu t (đối v i các trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối v i khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất các ên th a thu n nhưng phải ph hợp v i quy định của pháp lu t; nếu không có th a thu n về m c lãi suất thì quyết định theo m c lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ lu t dân sự năm 2015.
Trư ng hợp ản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Lu t thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 (mư i lăm) ngày kể t ngày tuyên án. Đương sự v ng mặt được quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 (mư i lăm) ngày kể t ngày nh n được ản án hoặc ản án được niêm yết hợp lệ. Đối v i à Cao Kim P, bà Cao Thị H3, ông Cao Hoàng H4 và bà Cao Xuân H2 có quyền kháng cáo ản án trong th i hạn một tháng, kể t ngày ản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể t ngày ản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp lu t.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - TAND tối cao tại TPHCM; - THADS tỉnh Vĩnh Long - Đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ánh Bình |