- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HSST Ngày 18-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà ò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tân và bà ường Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn a.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: Ông ầu A Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 2- Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn M, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986 tại xã Thuận Châu (trước là huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn a. Nơi cư trú: Bản T, xã M(trước là xã Bon P, huyện TC), tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: ao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ò Văn Sỹ, sinh năm 1964 và bà Cà Thị Yêu, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 4 năm 2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 05 phút ngày 09/4/2025, Tổ công tác Công an xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nong Ten, xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a phát hiện bắt quả tang ò Văn M có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo ò Văn M khai là Heroine).
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 10/4/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn a đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine bên trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,14 gam. Trích toàn bộ 0,14 gam, ký hiệu M1 gửi giám định.
Đối với 01 mảnh nilon màu hồng+ 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào trong một phong bì, dán k n, mép dán đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn a để lưu hồ sơ vụ án.
Kết luận giám định số: 466/KL-KTHS ngày 12/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận: M u gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ò Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 09/4/2025, ò Văn M đi bộ một mình từ nhà ở Bản T, xã M(trước là xã Bon P, huyện TC), tỉnh Sơn a sang bản Pài, xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a với mục đ ch đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi M đi đến khu vực bản Pài, xã Nậm ầu, M gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc thái (M không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu hồng bên trong có chứa Heroine với giá 1.00.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về hướng bản Nong Ten, xã Nậm ầu để đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi M đi bộ về đến khu vực bản Nong Ten, xã Nậm ầu thì bị tổ công tác Công an xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a phát hiện, bắt quả tang và thu giữ c ng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT- VKSKV2 ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn a đã truy tố bị cáo ò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo ò Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn a đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo ò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo ò Văn M từ 14 (mười bốn) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: ưu hồ sơ vụ án theo quy định: 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo ò Văn M.
Tại phiên tòa, bị cáo ò Văn M thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn a, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn a, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 09/4/2025 bị cáo ò Văn M đã có hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đ ch để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Nong Ten, xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
ời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra ph hợp với kết quả điều tra, ph hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 09/4/2025; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 466/KL-KTHS ngày 12/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a; lời khai của người chứng kiến.
Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, khi bị cáo bị đưa ra xét xử uật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 18 Điều 1 uật số 86/2025/QH15 uật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định không có lợi cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 uật số 86/2025/QH15 uật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét xử đối với bị cáo.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đ ch để sử dụng của bị cáo ò Văn M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo ò Văn M không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 07/4/2025 của bị cáo ò Văn M. Quá trình điều tra xác định bị cáo đã sử dụng hết ma túy, không thu giữ được vật chứng, không đủ căn cứ xử lý hình sự. Do vậy ngày 11/4/2025 Công an tỉnh Sơn a đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 0023815 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo ò Văn M là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo ò Văn M khai mua của một người đàn ông tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Pài, xã Nậm ầu, tỉnh Sơn a vào ngày 09/4/2025. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo ò Văn M phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ò Văn M ngày 07/4/2025 tại khu vực xã Nậm ầu. Bị cáo ò Văn M khai là một người đàn ông tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn a không có căn cứ xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng+ 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được lưu hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.
Đối với công cụ bị cáo ò Văn M sử dụng trái phép chất ma túy ngày 07/4/2025, sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo vứt vào rừng, bị cáo không nhớ địa điểm cụ thể, do vậy cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn a không có căn cứ xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo ò Văn M là người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo ò Văn M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo ò Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo ò Văn M 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày 09/4/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo ò Văn M.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo ò Văn M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn a (02 bản); - Công an tỉnh Sơn a; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn a; - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn a; - Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |