vanban.org

Bản án 06/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Xử phạt bị cáo Hà Văn M 15 (Mười năm) tháng tù. Thời hạn tính từ chấp hành án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Miên - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––––
Bản án số: 06/2025/HSST
Ngày: 10-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thanh Hòa - Giáo Vên trường phổ thông trung học cơ sở xã Tòng Đậu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Bà Lường Thị Thảo – Nguyên là Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Mai Châu.

Thư ký phiên toà: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát Vên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với.

Bị cáo: Hà Văn M, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1997, tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vệt Nam; con bà Hà Thị B (đã chết), không xác định được bố; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/8/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Cháu Quách Thị Yến V, sinh ngày 26 tháng 11 năm 2008; nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Chị Đinh Thị H, sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Anh Quách Văn T, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T – Trợ giúp Vên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn M quen biết và có tình cảm với cháu Quách Thị Yến V từ năm 2021. Mặc dù cháu V bị câm, điếc bẩm sinh và không được đi học nhưng cháu V có thể sử dụng thành thạo điện thoại để xem các chương trình trên ứng dụng You tube, Tiktok, Face book ... Trong khoảng thời gian từ năm 2021, M và cháu V thường liên lạc với nhau thông qua gọi và nhắn tin qua ứng dụng Facebook Messenger. Khoảng đầu tháng 02/2024, M đã đến nhà cháu V gặp chị Đinh Thị H, là mẹ cháu V để xin phép tìm hiểu cháu V nhưng chị H không đồng ý, tuy nhiên M và cháu V vẫn giữ liên lạc với nhau. Khoảng 17 giờ, ngày 01/5/2024, sau khi ăn cơm xong tại quán nhà anh Đinh Văn H tại xóm Tân Thủy, xã Tân Thành, M cùng bạn là Tạ Minh P đi đến nhà anh Đinh Thanh H, địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện M, nhưng không có H ở nhà, nên P ngồi ở sân nhà H chờ, còn M một mình đi sang nhà Quách Thị Yến V để tìm gặp V. Khi đến M thấy V ở bên ngoài bể nước, M vẫy tay thì V đi đến gần, sau đó cả hai cùng đến ngồi ở dưới gốc cây nhãn trên kè đất đá bờ sông Đà, cách nhà của V khoảng 100 mét. Ban đầu M và V cùng ngồi xem điện thoại với nhau thì điện thoại hết pin, sau đó cả hai ôm hôn nhau, M dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của V, rồi M dùng tay ra H bảo V cởi quần, thì V tự mình cởi một bên ống quần ra, M tiếp tục dùng tay sờ âm hộ của V khoảng 10 phút thì thực hiện hành V giao cấu với V. Sau khi giao cấu với V được khoảng 05 - 06 phút thì M xuất tinh vào bên trong âm đạo của V. Giao cấu xong, V đi bộ lên nhà, còn M quay về nhà anh H, thấy P đã đi về trước nên M điều khiển xe đi về nhà.

Khoảng 20 giờ cùng ngày chị Đinh Thị H nghi ngờ cháu Quách Thị Yến V bị xâm hại tình dục nên đã kiểm tra, phát hiện trên quần lót và quần đùi cháu V đang mặc có chất nhầy, mùi hôi nên ngày 02/5/2024, gia đình cháu V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu trình báo.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của cháu Quách Thị Yến V và Hà Văn M vào ngày 02/5/2024 xác định: Không phát hiện dấu vết thương tích trên cơ thể của cháu V và M.

Tại Kết luận giám định số 22/KLTDTE-TTPY số 07/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình về xâm hại tình dục ở trẻ em của Quách Thị Yến V xác định:

- Trên cơ thể không thấy có dấu vết của thương tích.

- Môi bé nề đỏ hai bên;

- Màng trinh rách ở vị trí 5h, 7h, 10h vết rách cũ đã liền sẹo;

- Không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng trong mẫu dịch âm đạo.

Tại Bản kết luận giám định tình trạng sức khỏe số 02/PY-GĐSK ngày 30/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình xác định: Cháu Quách Thị Yến V bị Điếc, câm bẩm sinh.

Tại Kết luận giám định số 21/KLKNTD ngày 07/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hòa Bình về khả năng tình dục nam của Hà Văn M xác định: Hà Văn M tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục, HIV âm tính.

Tại Kết luận giám định số 3274/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Vện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định:

- Trên chiếc quần đùi màu hồng và chiếc quần lót nữ màu vàng gửi giám định đều có tế bào và tinh trùng của Hà Văn M.

- Trong mẫu ghi dịch âm đạo thu của Quách Thị Yến V gửi giám định có tinh trùng của Hà Văn M.

Ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đã có Công văn số 233/CV-CSĐT gửi Trường Phổ thông Cơ sở Xã Đàn về Vệc phối hợp trong hoạt động điều tra. Ngày 04/6/2024, giáo Vên, chuyên gia ngôn ngữ ký H đã tiến hành kiểm tra khả năng nhận biết ngôn ngữ ký H (ngôn ngữ của người bị khuyết tật nghe, nói) đối với cháu Quách Thị Yến V. Kết quả làm Vệc xác định: Cháu V không nhận biết, hiểu được ngôn ngữ mà giáo Vên truyền đạt.

Bản cáo trạng số: 61/CT – VKSMC ngày 29/11/2024 của Vện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Hà Văn M về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau.

Về tội danh, hình phạt, đề nghị:Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

- Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn M từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra đại diện gia đình cháu Quách Thị Yến V yêu cầu Hà Văn M phải bồi thường tiền tổn thất về tinh thần, danh dự nhân phẩm cho cháu V số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Đến nay Hà Văn M đã thực hiện xong Vệc bồi thường, gia đình cháu V không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên đề nghị không tiếp tục xem xét.

Về các vấn đề khác:

- Đối với 01 (một) chiếc quần đùi màu hồng, 01 (một) chiếc quần lót nữ, màu vàng và 01 chiếc áo phông màu đen là trang phục cháu Quách Thị Yến V mặc khi xảy ra sự Vệc. Sau khi đã hoàn thành công tác giám định, xét thấy Vệc trả lại các đồ vật trên không ảnh hưởng đến Vệc giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đã trả lại cho cháu V nên đề nghị không tiếp tục xem xét.

+ Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bị cáo có ý thức pháp luật kém coi thường pháp luật và lợi dụng sự hạn chế về khả năng nhận thức của bị hại nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành V giao cấu như trong cáo trạng đã nêu, không những xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm mà còn làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý sự phát triển lành mạnh của bị hại là trẻ em đang được cả xã hội quan tâm, bảo vệ chăm sóc. Tại phiên tòa đã thấy đủ chứng cứ kết tội bị cáo, đồng ý với tội danh, mức hình phạt và điều luật mà đại diện Vện kiểm sát đã đề nghị tại bản luận tội. Đề nghị áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại nên không có ý kiến gì thêm.

+ Ý kiến của đại diện bị hại: Tối này 01/5/2024 sau khi con gái là Quách Thị Yến V về nhà ăn cơm, sau đó có cháu Đinh Thị H sang hỏi chị H là V đã về chưa vì H thấy Hà Văn M đến chơi. Nghi ngờ cháu V bị Hà Văn M xâm hại nên chị H đã kiểm tra quần áo của cháu V thì thấy bị dính lá khô và bị ướt, có mùi hôi nên đã bảo chồng là Quách Văn T làm đơn trình báo. Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của đại diện bị hại nên không có yêu cầu gì nữa. Các quyền, lợi ích hợp pháp khác đã có Trợ giúp Vên pháp lý bảo vệ nên đồng tình với ý kiến của Trợ giúp Vên pháp lý.

+ Ý kiến của bị cáo: Đồng ý với nội dung cáo trạng và bản luận tội của đại diện Vện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo. Lời nói sau cùng của bị cáo là rất ân hận, ăn năn hối cải về hành V phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành V, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Điều tra Vên; Vện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát Vên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành V, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành V, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành V phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành V giao cấu đối với cháu Quách Thị Yến V đúng như nội dung Cáo trạng của Vện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can, phù hợp các kết luận giám định cùng toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ, ngày 01/5/2024, tại khu đất trống trên kè đất đá bờ sông Đà thuộc Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Hà Văn M đã thực hiện hành V giao cấu với cháu Quách Thị Yến V là người câm điếc bẩm sinh. Tại thời điểm bị xâm hại cháu Quách Thị Yến V được 15 tuổi 05 tháng 05 ngày. Vệc giao cấu giữa M và cháu V là tự nguyện, không bị ép buộc. Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hà Văn M phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành V quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ của hành V phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, sống cùng xóm với bị hại nhưng không giúp đỡ, chăm sóc bảo vệ trẻ em mà ngược lại còn lợi dụng tình cảm để xâm hại về tình dục đối với trẻ em, cụ thể với Quách Thị Yến V mới 15 tuổi 05 tháng 05 ngày. Hành V của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự phát triển bình thường về chức năng tâm sinh lý của người chưa thành niên, làm tổn hại đến sức khỏe, sự phát triển tự nhiên của cơ thể con người, xâm phạm đến quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi đồng thời ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội có tính chất nguy hiểm thể hiện ở Vệc người bị hại bị câm điếc, không được tiếp xúc nhiều với xã hội nên bị hạn chế về mặt ngôn ngữ nhưng đã bị Hà Văn M lợi dụng quan hệ tình cảm (yêu đương và quan hệ tình dục) làm bị ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và sự phát triển bình thường của người chưa thành niên. Hành V này đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân và bị cộng đồng dân cư lên án. Bởi vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung cũng như mới có đủ thời gian cải tạo bị cáo để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, trên cơ sở các đề nghị của Vện kiểm sát nhân dân và người bào chữa cho bị hại, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành V phạm tội của mình;bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn của huyện Mai Châu, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng mà đại diện Vện kiểm sát, tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận xử lý, giải quyết. Đối với ý kiến khác của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại nêu trên cũng cần được xem xét để giải quyết đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn M phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Về tội danh, hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn M 15 (Mười năm) tháng tù. Thời hạn tính từ chấp hành án

2. Về án phí: Bị cáo Hà Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ