vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyên P 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2024.

Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đỗ Nguyên P, Phan Thanh T3 (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Nguyên P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyên P 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2024.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày: 09/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đinh Minh Hoàng;

- Bà Bùi Diệu Huệ

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung T - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 407/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 515/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Nguyên P, sinh năm 2003, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số H đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Hiếu H, sinh năm 1975 và bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/6/2024. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, Đỗ Nguyên P đi xe mô tô biển số 59P3-02112 đến phòng số 2, nhà số D H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp một người bạn tên T1 (chưa rõ lai lịch). Quá trình cả hai ngồi nói chuyện thì T1 có cho P 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu vàng là ma túy để sử dụng. P bỏ ma túy vào trong túi quần phía trước bên trái của P đang mặc. Sau đó, T1 có việc nên khóa cửa đi ra ngoài, còn P đứng trước cửa phòng trọ sử dụng điện thoại.

Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B đi tuần tra phát hiện P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của P đang mặc bên trong có 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu vàng nên tổ tuần tra tiến hành đưa P cùng vật chứng về Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Nguyên P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ.

Tại bản Kết luận giám định số 7246/KLGĐ-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận: 04 viên nén màu vàng được ký mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,5124 gam, loại MDMA.

Vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đỗ Nguyên P, Dương Quốc T2 (Điều tra viên), Phan Thanh T3 (người chứng kiến) và hình dấu công an phường B, quận B.

- 01 xe mô tô biển số 59P3-021.12 số khung: MLHKF3058L5120148; Số máy: KF35E-1020148. Tại bản Kết luận giám định số 3661/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an T: Xe mô tô biển số 59P3-021.12 số khung: MLHKF3058L5120148; Số máy: KF35E-1020148, số khung, số máy nguyên thủy.

Qua xác minh xe mô tô biển số 59P3-021.12 do anh Võ Công T4 địa chỉ 8 N, phường A, quận T đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh T4 khai, đứng tên xe giùm chị Đỗ Thị H1. Tiến hành lấy lời khai của chị Đỗ Thị H1 (mẹ ruột của P) khai xe trên chị H1 cho Đỗ Nguyên P mượn đi uông cà phê, việc P sử dụng vào việc phạm tội chị H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả cho chị Đỗ Thị H1.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số thuê bao 0902701864; số Emei 353950102703484, P sử dụng để liên lạc cá nhân.

Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 232/LNK-ĐCSMT ngày 17/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B.

Cáo trạng số 375/CT-VKS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Nguyên P ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Nguyên P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến gì khác.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo P, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyên P phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo P với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp: không đề nghị xem xét.

Bị cáo P không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi và các quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 13/6/2024, Đỗ Nguyên P có hành tàng trữ trái phép chất ma túy, với khối lượng 1,5124 gam, loại MDMA nhằm sử dụng cho bản thân tại trước nhà số D H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị phát hiện bắt giữ, đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 7246/KLGĐ-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận: 04 viên nén màu vàng được ký mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,5124 gam, loại MDMA.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 1,5124 gam, loại MDMA thuộc trường hợp “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ nên chấp nhận.

Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bất chấp pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác do đó cần xử lý với mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Không

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đỗ Nguyên P, Phan Thanh T3 (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (điều tra viên) và hình dấu công an phường B, quận B. Hội đồng xét xử xét vật chứng trên là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 xe mô tô biển số 59P3-021.12 số khung: MLHKF3058L5120148; Số máy: KF35E-1020148. Tại bản Kết luận giám định số 3661/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an T: Xe mô tô biển số 59P3-021.12 số khung: MLHKF3058L5120148; Số máy: KF35E-1020148, số khung, số máy nguyên thủy.

Qua xác minh xe mô tô biển số 59P3-021.12 do anh Võ Công T4 địa chỉ 8 N, phường A, quận T đứng tên chủ sở hữu(BL 49). Qua làm việc anh T4 khai, đứng tên xe giùm chị Đỗ Thị H1 (BL53). Tiến hành lấy lời khai của chị Đỗ Thị H1 (mẹ ruột của P) khai xe trên chị H1 cho Đỗ Nguyên P mượn đi uông cà phê, việc P sử dụng vào việc phạm tội chị H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả cho chị Đỗ Thị H1. Hội đồng xét xử không xem xét

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số thuê bao 0902701864; số Emei 353950102703484. Bị cáo P dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo.

Đối với người thanh niên tên T1 cho P ma túy, qua lấy lời khai của chị Ong Thị L là chủ nhà trọ không biết rõ nhân thân lai lịch của T1, do T1 chưa cung cấp căn cước công dân nên chưa làm hợp đồng. Qua xác minh tại Công an phường B không có ai tên T1 đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên; Do P không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra Công an quận B đang tiến hành xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau..

Về án phí: bị cáo Đỗ Nguyên P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyên P 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đỗ Nguyên P, Phan Thanh T3 (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (điều tra viên) và hình dấu công an phường B, quận B.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Nguyên P 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số thuê bao 0902701864; số Emei 353950102703484.

(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK25/76TV ngày 25/11/2024).

3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Đỗ Nguyên P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ