- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Q tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Quản P “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 16/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và bà Vũ Thị Khánh Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Ngọc Q – sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Nay là thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên).
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Ngọc L, được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng, Huân chương kháng chiến và Huân chương chiến sĩ giải phóng (hạng Ba) và bà Ngô Thị N;Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là chị Đậu Thị T, có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2025 đến ngày 02/4/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H, trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Người làm chứng:
- Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt).
- Anh Đặng Xuân H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 27/03/2025, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực Công ty P1 thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn A, xã T, tỉnh Hưng Yên) phát hiện Nguyễn Ngọc Q đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu đỏ, biển kiểm soát 36K3 - 131.51 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến, làm chứng của anh Đặng Xuân H và ông Bùi Văn Đ cùng đại diện chính quyền địa phương, Q đã tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 02 túi nilon trong suốt đều có mép cài, bên trong đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân (qua giám định là Methamphetamine, có khối lượng 0,4904 gam). Tổ công tác đã đưa Q cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T (nay là Công an xã T) lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định để tiếp tục điều tra, làm rõ. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc Q tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên) không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 299/KL - KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H), kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4904 gam (không phẩy bốn nghìn chín trăm linh bốn gam).
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 63/CT-VKSHH ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên) đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2025.
+ Về vật chứng, tài sản quản lý: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 299/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H).
+ Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với luận tội với Kiểm sát viên và không trình bày tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người làm chứng đã được tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của họ. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án có mặt bị cáo, vắng mặt những người làm chứng.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) lập hồi 20 giờ ngày 27/3/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) lập hồi 21 giờ 20 phút ngày 27/3/2025; Bản kết luận giám định số 299/KL - KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H)… Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ ngày 27/3/2025, tại khu vực Công ty P1 thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn A, xã T, tỉnh Hưng Yên), Nguyễn Ngọc Q có hành vi cất giấu tại túi quần bên phải phía trước đang mặc 02 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4904 gam (không phẩy bốn nghìn chín trăm linh bốn gam) mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên) đã truy tố là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật. Điều luật quy định như sau:
Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Ma túy đã trở thành vấn nạn nhức nhối cho toàn xã hội. Bản thân người nghiện sẽ bị hủy hoại về sức khỏe, tinh thần, giảm khả năng lao động, học tập, nhân cách bị tha hóa. Những gia đình có người nghiện ma túy sẽ suy kiệt về tài chính, hạnh phúc gia đình tan vỡ. Tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo là người có công với Cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung, góp phần làm giảm các tội phạm về ma túy.
Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Q tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, tài sản quản lý: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 299/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, tại khu vực vòng xuyến P, huyện P (nay là xã Q), tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh, xử lý trong vụ án là phù hợp.
Những vấn đề khác trong vụ án: Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36K3-13151 đã qua sử dụng, bị cáo Q khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không rõ tên địa chỉ ở thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên) với giá 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985 ở thôn X, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã X, tỉnh Thanh Hóa). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) đã ra Quyết định ủy thác điều tra số 2194 ngày 15/4/2025 yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T làm việc với chị N1 để làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô. Tuy nhiên, việc ủy thác chưa có kết quả. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) đã tách chiếc xe mô tô trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Quản phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Quản P “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 299/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H).
(Các vật chứng và tài sản trên có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H) và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Hưng Yên) ngày 03/6/2025.)
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/7/2025. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND khu vực 8 - Hưng Yên ;
- Phân trại tạm giam khu vực Hưng Hà;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên;
- Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên;
- Bị cáo;
Đặng Thị Nguyệt
- Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên;
- THADS tỉnh Hưng Yên ;
- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Nguyệt
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND khu vực 8 - Hưng Yên ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Sở tư pháp Thái Bình; - Chi cục THADS khu vực 8 - Hưng Yên ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Thị Nguyệt |