- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm q…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-TUYÊN QUANG Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 09-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tuấn Vĩnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Diện và bà Nguyễn Thị Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dạ Lan, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5-Tuyên Quang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5-Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5-Tuyên Quang đối với bị cáo:
Hoàng Minh G, sinh ngày 01/5/1984, tại huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang). Nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay là thôn G, xã T, tỉnh Tuyên Quang); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; căn cước công dân số: 002084003516, ngày cấp 25/9/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH-BCA; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Bình L sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1957; có vợ là Dương Thị L1 sinh năm 1984; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/02/2020 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm, số tiền phạt là 2.000.000đ theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000565/QĐ-XPHC, bị cáo đã chấp hành xong ngày 04/02/2020. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Cháu Lý Văn C, sinh ngày 23/02/2010, nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang), (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lý Văn C: Ông Lý Seo P, sinh năm 1992 (là bố đẻ của bị hại); nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang); vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn dân sự: Hộ kinh doanh Trịnh Tú H, địa chỉ: Số nhà C, đường H, tổ A, Phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (Nay là Số nhà C, đường H, tổ A, phường H, tỉnh Tuyên Quang). Người đại diện theo pháp luật: Bà Trịnh Tú H, chức vụ: Chủ hộ kinh doanh. Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Tú H là ông Phạm Hồng Q, sinh năm 1975; nơi cư trú: tổ A, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (nay là tổ A, phường H, tỉnh Tuyên Quang); vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1976 và anh Phạm Hồng Q, sinh năm 1975, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/6/2025, Hoàng Minh G, sinh năm 1984, trú tại thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay là thôn G, xã T, tỉnh Tuyên Quang) là lái xe chở khách theo chuyến cho hợp tác xã V có địa chỉ tại phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (nay là phường H, tỉnh Tuyên Quang) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FUSOROSA, loại 17 chỗ ngồi, biển số: 22F-002.02 chở 16 hành khách xuất phát từ thị xã S, tỉnh Lào Cai về thành phố H. Đến 20 giờ 11 phút cùng ngày đi đến đoạn Km 247+900, Quốc lộ B đường H - Hà Giang, thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang, (nay thôn T, xã T, tỉnh Tuyên Quang) G điều khiển xe với tốc độ khoảng 70km/h thì phát hiện phía trước có 01 (một) xe ô tô hiệu KIA loại 7 chỗ ngồi đi với tốc độ chậm hơn nên G muốn vượt xe, Giám bật đèn tín hiệu xin vượt (xi nhan bên trái) và điều khiển xe sang phần đường bên trái theo chiều đi để vượt xe, đồng thời Giám quan sát thấy ở phía trước khoảng 30m có một xe mô tô đi ngược chiều (xe mô tô biển số: 23D1-385.87, do Lý Văn C, sinh năm: 2010, trú tại: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang nay là thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang điều khiển), thấy vậy G vẫn tiếp tục điều khiển xe vượt lên bên trái xe ô tô 7 chỗ. Khi vượt qua được xe ô tô 7 chỗ, G phát hiện xe mô tô đi ngược chiều đi với tốc độ nhanh đi ra giữa đường G đánh lái về phần của mình. Giám đang điều khiển xe về phần đường bên phải theo chiều đi nhưng chưa sang hết phần đường bên phải thì va chạm với xe mô tô. Xe mô tô đâm trực diện vào phần đầu xe của G điều khiển, phía trên cản trước, gần đèn pha trước bên trái, vị trí va chạm thuộc phần đường của xe mô tô. Sau tai nạn Lý Văn C văng vào đầu xe ô tô rơi xuống nền đường tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị hư hỏng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T) sau khi nhận được tin báo của Phòng C1, công an tỉnh H, đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tạm giữ các phương tiện liên quan và đo nồng độ cồn đối với Hoàng Minh G cho kết quả 0,000mg/l khí thở. Kết quả kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu đối với Hoàng Minh G là âm tính với chất ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và xác định hiện trường như sau: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thuộc Km 247+900 QL 2 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang, đường nhựa áp phan phẳng, không che khuất, đường khô ráo, không có cát sỏi. Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, đã ghi nhận dấu vết va chạm, dấu vết tác động của phương tiện giao thông trong vụ tai nạn với mặt đường và các dấu vết khác có liên quan. Xác định điểm va chạm nằm trên phần đường của xe mô tô tại vị trí số 1, cách tim đường 0,625cm theo chiều hướng bên trái hướng Hà Nội - Hà Giang.
Ngày 02/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: A107/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H (nay là Phòng K Công an tỉnh T) giám định pháp y tử thi.
Tại bản kết luận giám định tử thi số: 219/24/KLGĐTT-KTHS ngày 12/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
"Nguyên nhân chết của Lý Văn C: Đa chấn thương (chấn thương sọ não; gãy xương hàm, mặt; gãy xương cổ tay hai bên; gãy xương đùi)
Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể Lý Văn C: Các tổn thương trên thân thể Lý Văn C do tác động tương hỗ với vật tầy gây ra.
Xét nghiệm: Trong mẫu máu của tử thi Lý Văn C không tìm thấy các chất độc thường gặp".
Ngày 03/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: A110/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định dấu vết cơ học.
Tại bản kết luận giám định số: 223/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
"Xe mô tô mang biển kiểm soát 23D1-385.87 và xe ô tô mang biển kiểm soát 22F-002.02 va chạm trực tiếp, ngược chiều với nhau.
Vị trí va chạm đầu tiên: Đầu bên trái cản trước tại vị trí có dấu vết cong móp méo hình cung, cách cạnh trái biển kiểm soát 14cm của xe ô tô mang biển kiểm soát 22F-002.02 va chạm trực tiếp ngược chiều với mặt lăn, vành bánh trước xe mô tô mang biển kiểm soát 23D1-385.87 (tại vị trí tương ứng với chân van).
Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện cần giám định trên hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn: Vị trí va chạm đầu tiên tại tâm vị trí số 1 theo Biên bản khám nghiệm hiện trường, lập hồi 22 giờ 35 phút, ngày 02/6/2025, tại Km247+900, đường Q, thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang, vị trí này trên phần đường bên phải hướng Hà Giang - Hà Nội".
Ngày 05/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: A111/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu V1 giám định độc chất, cồn, ma túy trong mẫu máu thu khi khám nghiệm tử thi Lý Văn C.
Tại bản kết luận giám định độc chất số: 424/641/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 11/6/2025 của Viện Pháp y V1 kết luận: "Không tìm thấy các chất độc nêu trên".
Ngày 06/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: A115/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định kỹ thuật số và điện tử.
Tại bản kết luận giám định số: 226/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
"Không tìm thấy file video ghi lại hình ảnh liên quan đến nội dung vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 02/6/2025 trong 03 (ba) mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3".
Ngày 19/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 119/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh H, giám định các thông số kỹ thuật và hệ thống an toàn của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe ô tô biển kiểm soát số 22F-002.02; Yêu cầu định giá tài sản số: A370/YC-PC01 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B tiến hành định giá tài sản những bộ phận hư hỏng trên xe mô tô hiệu HONDA BLADE, biển số: 23D1-385.87, (xe đăng ký ngày 24/12/2019).
Tại bản kết luận giám định số: 30/KL-TTĐK&ĐK ngày 27/6/2025 của Trung tâm đào tạo và đăng kiểm xe cơ giới tỉnh H kết luận:
"Hệ thống phanh, hệ thống treo, hệ thống lái, hệ thống truyền lực, tổng thành của phương tiện có đầy đủ các bộ phận, hoạt động bình thường. Hiệu quả phanh chính trên băng thử phanh đạt giá trị cho phép, hiệu quả phanh đỗ trên băng thử phanh đạt giá trị cho phép.
Các khiếm khuyết hư hỏng của phương tiện được khắc phục trước khi tham gia giao thông gồm: đèn phanh không sáng, đèn chiếu sáng phía trước bên lái vỡ, lốp trục hai bên lái sai kích cỡ, thừa một ghế, kính chắn gió vỡ, ba đờ sốc trước và mặt galăng móp méo, thiếu dây đai ghế ngồi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện B kết luận: "những bộ phận hư hỏng trên xe mô tô hiệu HONDA BLADE, biển số: 23D1-385.87 có tổng giá trị 16.180.000 đồng (mười sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng)".
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 19/CT-VKSNDKV5 ngày 16/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Hoàng Minh G về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Sau khi xem xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Tuyên Quang vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh G từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo Hoàng Minh G cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự;
"Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo". Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, phạm tội với lỗi vô ý, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Minh G tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại Lý Văn C số tiền 155.000.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng), đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát số 22F-002.02 và không có yêu cầu nào khác về dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại cũng không có yêu cầu nào khác về bồi thường dân sự nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản đã thu giữ là hợp pháp nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Minh G thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người làm chứng nhưng trước đó đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[3] Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Minh G tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ như: Tài liệu khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh (bút lục số 30b-51), biên bản khám nghiệm tử thi và bản ảnh (Bút lục 52-56), tài liệu vật chứng (bút lục số 44-52), biên bản kiểm tra nồng độ cồn (bút lục số 28a-29), biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu (Bút lục số 30a), biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và bản ảnh (bút lục số 73-93), các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 02/6/2025 Hoàng Minh G điều khiển xe ô tô chở khách hiệu FUSOROSA, màu sơn Đỏ, biển kiểm soát: 22F-002.02 tham gia giao thông trên quốc lộ B, đường H - Hà Giang, khi đến đoạn Km 247+900 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn T, xã T, tỉnh Tuyên Quang) Giám vượt xe ô tô KIA, loại 07 chỗ (không xác định được biển kiểm soát), trong quá trình vượt xe Giám đã không đảm bảo an toàn đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE biển kiểm soát: 23D1-385.87 do Lý Văn C, sinh năm 2010, trú tại: thôn P, xã T, huyện B (nay là thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang) điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả Lý Văn C tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị hư hỏng, xe mô tô BKS 23D1-385.87 bị hư hỏng có giá trị là 16.180.000đ (Mười sáu triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng).
[4] Hành vi của bị cáo Hoàng Minh G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 22F-002.02 vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô đi ngược chiều do Lý Văn C điều khiển. Hậu quả Lý Văn C tử vong đã vi phạm vào điểm a, khoản 6, Điều 14 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, cụ thể:
[5] Điểm a, khoản 6, Điều 14 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định:
Điều 14. Vượt xe và nhường đường cho xe xin vượt.
1)....
3) Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác, đã có tín hiệu rẽ phải và tránh về bên phải.
4)....
6. Không được vượt xe trong trường hợp sau đây:
a) Khi không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này.
[6] Hành vi của bị cáo Hoàng Minh G phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:
[7] Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người..."
[8] Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Hoàng Minh G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[9] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác là khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, buộc bị cáo phải nhận thức được khi tham gia giao thông phải chấp hành các quy định về an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, trong quá trình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 22F-002.02 bị cáo vượt xe không đảm bảo các điều kiện an toàn theo quy định dẫn đến va chạm vào xe mô tô đi ngược chiều, gây tai nạn giao thông, hậu quả làm 01 người chết. Do đó, cần xử lý bị cáo bằng chế tài Luật hình sự với mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
[10] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[11] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[12] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có người thân có công với đất nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX xem xét khi áp dụng mức hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[13] Trong vụ án này, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu, với lỗi vô ý, không có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, vì vậy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Hoàng Minh G trong vụ án là phù hợp, đồng thời trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay có vi phạm pháp luật, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo G ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng các quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta.
[14] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, phạm tội với lỗi vô ý, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[15] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra bị cáo Hoàng Minh G đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại Lý Văn C số tiền 155.000.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện theo ủy quyền của Bị đơn dân sự không có yêu cầu nào khác về bồi thường dân sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[16] Về phần thiệt hại của xe ô tô BKS 22F-002.02, bị đơn dân sự không yêu cầu bị cáo Hoàng Minh G phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[17] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản đã thu giữ là hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[18] Đối với Lý Seo P, Giàng Thị M là bố, mẹ đẻ của Lý Văn C không biết việc C tự lấy xe mô tô của gia đình đi và không giao xe mô tô cho C điều khiển nên không có căn cứ xử lý đối với P và M về hành vi giao phương tiện cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông.
[19] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo Hoàng Minh G cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự;
"Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo".
3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Minh G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
"Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh TQ; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 5-Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã Thanh Thủy; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Tuấn Vĩnh |