- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thiện N phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 25 – 7 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông (bà) Nguyễn Văn Trưởng
Ông (bà) Âu Cần Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Luyến – Thư ký Tòa án khu vực 12, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông (bà) Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thiện N; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1992; nơi sinh tại: thị xã L, tỉnh Hậu Giang nay là phường L, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Thiên N1 (còn sống); con bà: Đỗ Thị H (còn sống); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/3/2025 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Thanh Đ – sinh ngày 10/5/1995; trú tại: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 03/03/2025 qua công tác khám nghiệm hiện trường vụ “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo đơn tố giác của Trần Thị Trâm A tại nhà Huỳnh Thiện N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện thu giữ: 01 (môt) bịch ny long có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy được hàn kín hai đầu và 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy của Huỳnh Thiện N cất giấu tại khu vực giường ngủ của N.
Quá trình điều tra Huỳnh Thiện N khai nhận: Vào ngày 02/03/2025 N đã liên hệ với người nam tên Đ (không rõ họ tên cụ thể) nhà ở đoạn lộ B qua ứng dụng Zalo (không nhớ rõ tên) để hỏi mua một bịch ma túy với giá tiền là 300.000 đồng, Đ đồng ý bán rồi hẹn N lên đi đến chỗ góc khe cửa hàng rào nhà của Đ để lấy ma túy, rồi để tiền vào vị trí đã lấy bịch ma túy trả cho Đ, sau đó N một mình điều khiển xe lên vị trí như thỏa thuận để lấy ma túy rồi mang về nhà để sử dụng. Khi mua bịch ma túy về nhà thì N đã lấy ra một ít ma túy để vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy do N tự chế hút một mình vào tối ngày 02/02/2025 nhưng sử dụng chưa hết còn lại một ít chất ma túy còn lại bám dính vào trong ống nỏ thủy tinh gắn trên bình dụng cụ sử dụng ma túy, rồi N đem cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa, ống nỏ thủy tinh và ống hút nhựa đựng ma tuý để vào bịch ny long màu đen treo trên giường ngủ của N để dành sử dụng tiếp nhưng đến sáng ngày 03/03/2025, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh H (cũ) nay là Công an thành phố C phối hợp cùng Công an phường T đến nhà của N để tiến hành việc khám nghiệm hiện trường vụ “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” thì bị phát hiện và thu giữ số ma tuý trên.
Tại Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 10/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- Mẫu ký hiệu M1: Tinh thể bám dính bên trong 01 (một) ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,02746 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23119 gam, loại Methamphetamine.
Đối với người nam Đ là người đã bán một bịch ma túy cho N với giá tiền 300.000 đồng vào ngày 02/03/2025, theo lời khai của N Cơ quan điều tra đã thu thập thông tin và hình ảnh về đối tượng Đ có họ tên là Trần Thanh Đ (sinh năm 1995, đăng ký thường trú khu vực T, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang). Qua làm việc đối tượng Đ chỉ thừa nhận có mối quan hệ quen biết với N còn việc bán ma túy cho N thì Đ không thừa nhận có bán ma túy cho N và cũng không thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy lần nào cho ai. Do đó không đủ cơ sở xử lý đối với Lê Thanh Đ1 về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H sẽ tiếp tục xác minh điều tra làm rõ có xử lý sau.
Đối với đơn tố giác của Trần Thị Trâm A về việc bị Huỳnh Thiện N có hành vi giao cấu xảy ra vào rạng sáng ngày 03/03/2025 tại nhà của N thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H thụ lý giải quyết theo thẩm quyền bằng vụ án khác và chưa có căn cứ khởi tố hay không khởi tố nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
* Vật chứng thu giữ:
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã nhập kho vật chứng các tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Một gói niêm phong vụ số 209/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong gói niêm phong gồm có: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, tinh thể ma túy tổng hợp loại Methamphetamine dạng “đá” còn lại sau giám định có khối lượng 0,16208 gam và trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Đặng Thị Phương L (Người chứng kiến) và Đặng Thanh L1 (Người niêm phong).
* Việc xử lý vật chứng trong vụ án:
Viện KSND thị xã L sẽ có quyết định chuyển các vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ được đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật. Tại cáo trạng số 32/CT-VKS-TXLM ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là Viện kiểm sát khu vực 12, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Huỳnh Thiện N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Luận tội của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thiện N như nội dung cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thiện N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 đến 03 năm tù, về đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Thiện N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố Trần Thanh Đ đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Trần Thanh Đ và dành quyền kháng cáo cho Trần Thanh Đ theo luật định.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Thiện N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai có trong hồ sơ và những tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định:
Vào ngày 03/03/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H (cũ) nay là Công an thành phố C phối hợp với Công an phường T (cũ) nay Công án phường L tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tại nhà Huỳnh Thiện N thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là phường L, thành phố Cần Thơ thì phát hiện N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,23119 gam, loại Methamphetamine và một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy có các tinh thể bám dính bên ống thủy tinh có khối lượng 0,02746 gam, loại Methamphetamine, số ma tuý trên N tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Thiện N đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng là “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại các điểm c khoản 1 Điều 249. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là Viện kiểm sát khu vực 12 – Cần Thơ truy tố bị cáo Huỳnh Thiện N về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội: Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hinh sự, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân mà bị cáo bất chấp quy định của pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Huỳnh Thiện Nghĩa L2 hành vi là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy đã được pháp luật hình sự điều chỉnh; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, chất ma túy M là loại ma túy tổng hợp, khi sử dụng gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, làm hủy hoại cuộc sống của người sử dụng, gây hậu quả không thể lường trước được, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với mục đích để sử dung cho thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội do mình gây ra, cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong vụ số 209/2025 của Phòng K Công an tỉnh H (cũ) nay là Công an thành phố C, bên trong gói niêm phong gồm có: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, tinh thể ma túy tổng hợp loại Methamphetamine dạng “đá” còn lại sau giám định có khối lượng 0,16208 gam và trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Đặng Thị Phương L (Người chứng kiến) và Đặng Thanh L1 (Người niêm phong).
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 106, Điều 268, Điều 269, Điều 292, Điều 293 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thiện N phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thiện N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong vụ số 209/2025 của Phòng K Công an tỉnh H (cũ) nay là Công an thành phố C, bên trong gói niêm phong gồm có: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, tinh thể ma túy tổng hợp loại Methamphetamine dạng “đá” còn lại sau giám định có khối lượng 0,16208 gam và trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Đặng Thị Phương L (Người chứng kiến) và Đặng Thanh L1 (Người niêm phong).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Huỳnh Thiện N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Huỳnh Thiện N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thanh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND khu vực 12 - TP Cần Thơ; - Công an TP Cần Thơ; - Sở Tư pháp TP Càn Thơ; - Phòng THADS khu vực 12; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Tiến |