- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thanh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC XXX- H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 17/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC XXX- H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Long
2. Ông Huỳnh Quốc Bình
Thư ký phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KHU VỰC XXX- H tham gia phiên tòa:
Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 07 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân KHU VỰC XXX- H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2025/HS- ST ngày 18/06/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST - HS ngày 02/7/2025 đối với bị cáo: Đỗ Thanh T, sinh năm 1989 tại N; Giới tính: Nam; Nơi cư trú (địa chỉ cũ): Tổ 1, thôn Đ, phường C, thành phố N, tỉnh N (Nay là phường N, tỉnh N); Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Đỗ Văn M và bà Trần Thị V; vợ là Phạm Thị N (đã ly hôn) và có 02 con, sinh năm: 2009 và 2012; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2009, bị Công an phường C, thành phố N, tỉnh N xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích. Năm 2012, bị Công an xã Nam Vân, thành phố N, tỉnh N xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2013, bị Công an thành phố N, tỉnh N xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; Ngày 20/04/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh N xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản (Bản án số 126/2018/HSST, ra trại ngày 17/02/2021, đã xóa án tích). Bị can hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có đơn xin vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 28/08/2015, Đỗ Thanh T điều khiển xe máy BKS 29N9-
3550 đi từ khu vực thành phố N, tỉnh N lên thành phố H. Khi đi đến khu vực đoạn đường tàu thuộc phường T, thành phố P, tỉnh H thì T dừng xe lại mua 02 gói Heroin của một người đàn ông không quen biết với giá 60.000 đồng rồi cất ở túi quần bên trái và tiếp tục đi lên thành phố H để sử dụng ma túy. Khi đi được khoảng 06km trên quốc lộ 1A thì T gặp anh Nguyễn Ngọc L (sinh năm 1997, Nơi cư trú: thôn Thường Âm, xã T, huyện D, tỉnh H), L xin đi nhờ xe lên H, T đồng ý chở anh L đi. Khi T điều khiển xe máy đi đến địa phận xã N, huyện T, thành phố H thì xe hết xăng nên T và L phải xuống dắt xe. Hồi 03 giờ 30 phút ngày 28/08/2015, tại khu vực gần cây xăng số 74 thuộc xã Ngũ Hiệp, huyện T, thành phố H, Tổ Tuần tra kiểm soát Đội Nghi lễ - PK20 - Công an thành phố H đang làm nhiệm vụ phát hiện T, L đang dắt xe máy BKS 29N9-3550 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qúa trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang Đỗ Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói chất bột màu trắng đang để trong túi quần bên trái của T, T khai là ma túy Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ 02 gói chất bột màu trắng nghi là Heroin và đưa T, L về trụ sở giải quyết.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám
định đối với chất bột màu trắng thu giữ của Đỗ Thanh T nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 7899/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự -
Công an thành phố H kết luận:
- 02 gói chất bột màu trắng có thành phần Heroine, trọng lượng bột: 0,222 gam
hàm lượng Heroine là: 42,18%
Căn cứ Công văn số 234 ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân tối cao, hai ngành
Công an – Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã thống nhất chuyển hồ sơ sang giải quyết theo trình tự tin báo về tội phạm.
Ngày 13/01/2016, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T ra Quyết định Khởi tố vụ
án hình sự, Khởi tố bị can đối với Đỗ Thanh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 theo căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 sửa đổi một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (vì không thuộc trường hợp phải giám định hàm lượng chất ma túy).
Quá trình điều tra, Đỗ Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã
nêu trên và phù hợp với tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án.
Đối với anh Nguyễn Ngọc L, quá trình điều tra xác định anh L chỉ đi nhờ xe
máy cùng với T lên thành phố H, anh L không biết T Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý gì với anh L.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định
được nhân thân, lý lịch người này nên Cơ quan cánh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với 01 chiếc xe máy BKS 29N9-3550 quá trình điều tra xác định đây là tài
sản của T nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 101 /CT - VKSTT ngày 16/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện T đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)
Tại phiên toà:
* Bị cáo có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KHU VỰC XXX – Hà Nôi giữ nguyên
quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 7; điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015; Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014; khoản 1 Điều 25 Bộ luật hinh sự năm 1999, đề nghị hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đỗ Thanh T. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định. Tịch thu sung công chiếc xe máy nhãn hiệu wave màu đỏ BKS 29N9 -3550 số máy 01899428, số khung 01898428, bên ngoài không có gương, không có yếm, xe cũ, đã qua sử dụng, dây điện xe đứt, các thiết bị bên trong không kiểm tra. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều
tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên
bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 03 giờ 30 phút ngày 28/08/2015, tại xã N, huyện T, thành phố H, khi Đỗ Thanh T đang tàng trữ trái phép 0,222 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra kiểm soát Đội Nghi lễ
- PK20 – CA thành phố H bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999). Viện kiểm sát nhân dân KHU VỰC XXX – H truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định số 7899/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự -
Công an thành phố H kết luận: 02 gói chất bột màu trắng có thành phần Heroine, trọng lượng bột: 0,222 gam hàm lượng Heroine là: 42,18%
Như vậy, trọng lượng ma tuý tinh chất mà bị cáo tàng trữ là 0,222 gam x 42,18%
= 0,0936 gam ma tuý loại heroin.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, căn cứ quy định
tại Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 sửa đổi một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và công văn 234/TATC – HS ngày 17/09/2014 của Toà án nhân dân tối cao thì trọng lượng ma tuý tinh chất mà bị cáo tàng trữ 0,0936 gam là mức rất ít và do chuyển biến tình hình tội phạm nên hành vi vi phạm của bị cáo tại thời điểm bị cáo phạm tội được áp dụng khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự, miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm
nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có
nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 gói chất bột màu trắng
có thành phần Heroine bên trong chứa 0,183 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định) và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu wave màu đỏ BKS 29N9-3550 số máy 01899428, số khung 01898428, bên ngoài không có gương, không có yếm, xe cũ, đã qua sử dụng, dây điện xe đứt. Đây là vật chứng của vụ án nên cần xử lý theo quy định của pháp luật.
Số ma túy thu giữ của bị cáo có trọng lượng còn lại sau giám định 0,183 gam
ma tuý loại heroin là chất độc hại nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.
Chiếc xe máy nhãn hiệu wave màu đỏ BKS 29N9 -3550 số máy 01899428, số
khung 01898428, bên ngoài không có gương, không có yếm, xe cũ, đã qua sử dụng, dây điện xe đứt là của bị cáo, bị cáo dùng khi đang tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tịch thu sung công.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật
tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331,
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
2. Áp dụng: Áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; khoản 1 điều
25 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đỗ Thanh T.
3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ
luật hình sự; Điều 105,106 Bộ luật tố tụng hình sự :
Tịch thu tiêu 01 phong bì bên trong có chứa ma tuý loại heroin trọng lượng
còn lại sau giám định 0,183 gam.
Tịch thu sung công chiếc xe máy nhãn hiệu wave màu đỏ BKS 29N9 -3550 số
máy 01899428, số khung 01898428, bên ngoài không có gương, không có yếm, xe cũ, đã qua sử dụng, dây điện xe đứt.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho của phòng thi hành án dân sự KHU VỰC
XXX – H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/06/2025).
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống
đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP H; - VKSND KHU VỰC XXX- H - Phòng THA dân sự KHU VỰC XXX - Cơ sở giam giữ; - Bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương |