- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 20 - 01 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đào Quyết Chiến, ông Trần Trung
-Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Phú Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại hội trường nhà văn hóa Uỷ ban nhân dân xã Tử Du, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 15/9/1991; nơi sinh và cư trú: Thôn P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đá chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; vợ: Mai Thị S, sinh năm 1991, con có 02 con, con lớn sinh năm 2015; con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Mai Thị S, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Quý L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tài T, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/9/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 22N1-044.19 đi từ nhà ra khu vực đường liên thôn thuộc thôn V , xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, khi đi Đ mang theo 02 gói ma túy (heroin) cầm trong lòng bàn tay để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Đ đang cầm 02 gói giấy nhỏ, loại giấy bạc, kiểm tra bên trong hai gói giấy bạc đều có chứa chất cục, bột màu trắng (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). Đ khai là hai gói ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân; 01 điện thoại di động loại OPPO; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 22N1-044.19.
Tại kết luận giám định số 2668/KLGĐ ngày 16/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,3477g (không phảy ba bốn bảy bảy gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (Heroin).
Heroine (heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy”.
Về nguồn gốc ma túy Đ khai mua của một người đàn ông có tên là Đ ở thôn V, xã T, huyện L với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập đối tượng có tên Nguyễn Kim Đ nhưng hiện tại Đ không có mặt ở địa phương, Đ đi đâu làm gì gia đình và địa phương không rõ. Cơ quan điều tra cho Đ nhận dạng qua ảnh nhưng Đ không nhận ra do vậy cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSLT ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024 và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1273g. Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động loại OPPO; tịch thu tiêu huye một sim điện thoại; trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 22N1-044.19 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Mai Thị S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt chị S.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ 50 ngày 12/9/2024, tại khu vực đường liên thôn, thuộc thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy theo kết luận giám định loại Heroine có khối lượng 0,3477g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… c,..Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, Đ khai tên Đ, cơ quan điều tra triệu tập nhưng Đ không có mặt ở địa phương, tiến hành nhận dạng Đăng không nhận ra Đ, số điện thoại Đăng khai 0865973363 là số của Đ, qua đình điều tra xác định Đ không dùng số điện thoại này do vậy chưa có căn cứ xác định Đ là người bán ma túy cho Đ do vậy cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau là đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1273g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại OPPO của Đ sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 22N1-044.19 là tài sản của vợ chồng Đ nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 ( một ) năm 05 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1= 0,1273g.
Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại OPPO của Đăng. Tịch thu tiêu hủy một sim điện thoại.
Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 22N1-044.19 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
4.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh phúc; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch; -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Lập Thạch; -Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Lập Thạch; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND xã Liên Hòa; - Bị cáo; -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS,VP. mẹ đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: + Chị Khổng Thị Ánh, sinh năm 1983 (vắng mặt). bỏ Phúc. + Bà Dương Thị Hương, sinh năm 1955 (vắng mặt). bỏ tỉnh Vĩnh Phúc.? | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Trần Thị Huệ bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; có Địa chỉ: Thôn Xuân Trạch, xã Xuân Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Địa chỉ: Tổ dân phố Hưng Thịnh, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, |