| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 23-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông h m V n D ng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng V n Tâm;
2. Ông Trịnh V n Bé.
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Thuận An, Th ký Tòa án nhân dân huyện
CM, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Ông han Anh Kiệt, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 n m 2025, t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh
An Giang xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 158/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 n m 2024, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 n m 2025, đối với bị cáo:
Trần Thị ML, sinh n m 1980, t i tỉnh An Giang; n i c trú: khóm T1, thị
trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: giáo viên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đ o phật; trình độ v n hóa: 12/12; con ông Trần V n hụng HS (đã chết) và bà PK, sinh n m 1946; chồng: Ngô VS (đã ly hôn); con: có 02 ng ời, lớn sinh n m 2016, nh sinh n m 2017; anh chị em ruột: có 06 ng ời bị cáo là ng ời thứ n m.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 09/7/2021, bị Ủy ban nhân dân xã LĐB ra Quyết định xử
ph t vi ph m hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã nộp ph t xong.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn cấm đi kh i n i c trú từ
ngày 25/10/2024 đến nay, có mặt t i phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị B, sinh n m 1954; n i c trú: khóm Thị 2, thị trấn CM, huyện
CM, tỉnh An Giang (có mặt);
2. Bà Lê Thị Đ, sinh n m 1964; n i c trú: ấp Long hú 2, xã LĐB, huyện
CM, tỉnh An Giang (có mặt);
3. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh n m 1969; n i c trú: ấp hú Th ợng 2, xã
Kiến An, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt);
4. Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh n m 1994; n i c trú: ấp Long Th ợng, xã
Kiến An, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
5. Bà Nguyễn Thị C, sinh n m 1977; n i c trú: ấp hú Th ợng 2, xã Kiến An, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
Trần Ngọc T, sinh n m 1971 (vắng mặt).
NỘI DUNG V ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ s vụ án và quá trình xét h i, tranh luận t i
phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 13 giờ ngày 07/02/2022, Trần Thị ML cùng với Nguyễn Thị
Thúy H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi Thị B, Lê Thị Đ đến khu vực đất của Lê V n Hóa (đã chết, không ng ời trông coi) thuộc khóm Thị 2, thị trấn CM, huyện CM để ch i đánh bài bình 06 lá đ ợc thua bằng tiền do 01 ng ời phụ nữ l (không rõ họ tên, địa chỉ) làm cái. T i sòng b c có từ 6 đến 7 ng ời ch i, mỗi ng ời ch i đặt 50.000 đồng, ng ời làm cái thắng thua với tất cả ng ời ch i theo tỷ lệ 1:1. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn CM phát hiện, lập biên bản ph m pháp quả tang có sự chứng kiến của Trần Ngọc T, một số ng ời ch i đánh b c ch y thoát đ ợc. Trong đó, L đã bị xử ph t vi ph m hành chính về hành vi đánh b c, mà còn tiếp tục vi ph m.
* Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá, số tiền 210.000 đồng trên chiếu
b c.
C quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện CM đã khởi tố Trần Thị ML
để điều tra xử L.
T i Bản cáo tr ng số 02/CT-VKSCM ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Thị ML về tội “Đánh b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 đã đ ợc sửa đổi, bổ sung n m 2017.
Tại phiên tòa
Bị cáo Trần Thị ML khai nhận hành vi ph m tội phù hợp với lời khai
ng ời làm chứng, ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ s vụ án. Tr ớc đó, vào ngày 09/7/2021, L bị Công an xã LĐB xử ph t vi ph m hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh b c, L không thừa nhận có tham gia đánh b c trong lần bị xử ph t vi ph m hành chính này nh ng đã nộp ph t xong, không khiếu n i, khiếu kiện việc xử ph t vi ph m hành chính. Đến ngày 07/02/2022, L tiếp tục tham gia đánh bài binh 06 lá thì bị bắt. Bị cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật, rất n n n, hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t.
Quá trình điều tra: Nguyễn Thị Thúy H, Lê Thị Đ, Bùi Thị B, Nguyễn Thị
C, Nguyễn Thị Ngọc H, Trần Ngọc T khai nhận nh nội dung vụ án đã nêu.
Đ i diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố t i phiên tòa, sau khi xét
h i, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ và hậu quả từ hành vi ph m tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phát biểu lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị với Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 60 Bộ luật
Hình sự n m 2015 đã đ ợc sửa đổi, bổ sung n m 2017.
Xử ph t bị cáo Trần Thị ML từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về
tội “Đánh b c” nh ng cho h ởng án treo thời gian thử thách từ 01 n m đến 01 n m 06 tháng.
Hình ph t bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó kh n không có thu nhập ổn
định đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung.
Về xử L vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà n ớc số tiền 210.000 đồng (tiền trên chiếu
b c).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng).
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc
tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định nh sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] .Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ
trong hồ s vụ án: Trong quá trình điều tra, truy tố, C quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện CM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng cũng nh các chứng cứ đ ợc thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ s vụ án đều hợp pháp.
[1.2] . Về trách nhiệm hình sự của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đối với Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ngọc H, Bùi
Thị B, Lê Thị Đ, tham gia đánh b c trái phép với tổng số tiền 210.000 đồng, nh ng d ới định l ợng, không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh b c hoặc tổ chức đánh b c, C quan cảnh sát điều tra – Công an huyện CM quyết định xử ph t hành chính đối với H, Đ, B, C, H là đúng pháp luật
Đối với Nguyễn Thành Tâm đã chết, không tham gia, không h ởng lợi từ
việc đánh b c, nên C quan điều tra không xử L là đúng pháp luật.
[1.3]. T i phiên tòa, còn có một số ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; ng ời làm chứng vắng mặt không rõ L do, mặc dù Tòa án đã tống đ t giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ng i đến n việc xét xử giải quyết vụ án, mặt khác, những ng ời này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ t i phiên tòa. C n cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Những chứng cứ xác định hành vi ph m tội của bị cáo:
Lời nH tội của bị cáo t i phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị
cáo trong giai đo n điều tra, phù hợp với lời khai của những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó có đủ c sở để xác định: Ngày 09/7/2021, bị cáo có hành vị đánh b c trài phép, bị công an bị công an xã LĐB xử ph t vi ph m hành chính số tiền 1.500.000 đồng đã nộp ph t xong. Đến ngày 07/02/2022, bị cáo tiếp tục tham gia đánh b c cùng với H, Đ, B, C, H thì bị bắt quả tang với tổng số tiền đánh b c là 210.000 đồng.
Cho nên Hành vi của bị cáo Trần Thị ML đã cấu thành tội “Đánh b c”, tội
ph m và hình ph t đ ợc quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 đã đ ợc sửa đổi, bổ sung n m 2017. Do đó, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có c n cứ, đúng ng ời, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi ph m tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Mọi lo i hình sát ph t n thua bằng tiền đều đ ợc xem là hành vi “Đánh
b c”, nó là nguyên nhân làm tiêu tán tài sản, phá vỡ h nh phúc gia đình, làm phát sinh nhiều lo i tệ n n xã hội và tội ph m hình sự khác; ảnh h ởng xấu đến trật tự trị an t i địa ph ng và cuộc sống bình th ờng của xã hội.
Bị cáo là một phụ nữ tr ởng thành, có sức kh e và điều kiện làm n chân
chính. Lẽ ra, bị cáo phải biết cố gắng lao động để t o ra của cải vật chất một cách chính đáng nuôi sống bản thân và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội, làm tấm g ng tốt cho con cháu noi theo. Thế nh ng không làm đ ợc đều này, do ham mê thắng thua bằng hình thức may rủi, muốn có nhiều tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động cực nhọc nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi ph m tội. Bị cáo hoàn toàn nH thức rõ hành vi đánh b c là vi ph m pháp luật và gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội nh ng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải t o bị cáo và r n đe, phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong tình hình các tệ n n xã hội đang diễn ra ngày càng nhiều và diễn biến ngày càng phức t p nh hiện nay.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tiền án; quá trình điều tra và t i phiên
tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, t rõ thái độ n n n, hối cải đối với hành vi vi ph m của bản thân; ph m tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, đồng thời hiện nay bị cáo đang nuôi 02 con nh sinh n m 2016, 2017 và mẹ già gần 80 tuổi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy định t i điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự n m 2015 đ ợc sửa đổi, bổ sung n m 2017. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo, không cần thiết cách ly các bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo đ ợc h ởng án treo nh đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ r n đe giáo dục các bị cáo.
Về hình ph t bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo đang gặp khó kh n, không có
thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về biện pháp t pháp và xử lý vật chứng:
Về xử L vật chứng: vật chứng thu giữ số tiền 210.000 đồng và 01 bộ bài
tây 52 lá (đã qua sử dụng). Xét thấy đối với số tiền 210.000 đồng là tiền thu đ ợc từ việc đánh b c của bị cáo và những ng ời tham gia đánh do đó cần tịch thu sung ngân sách ngân n ớc. Riêng đối với bộ bài tây 52 lá không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiều hủy.
[5] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Thị ML bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định
của pháp luật.
Bị cáo, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. C n cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 60 Bộ
luật Hình sự n m 2015 đã đ ợc sửa đổi, bổ sung n m 2017.
Xử ph t: Bị cáo Trần Thị ML 07 (bảy) tháng tù cho bị cáo đ ợc h ởng án
treo, thời gian thử thách 01 (một) n m 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án (23/01/2025).
Giao bị cáo Trần Thị ML cho Ủy ban nhân dân thị trấn CM, huyện CM,
tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi n i c trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi ph m nghĩa
vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho h ởng án treo.
2. Về xử L vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách nhà n ớc số tiền 210.000 đồng (tiền trên chiếu
b c) (theo biên lai thu tiền số 0006609 ngày 23/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng) (Hiện nay
Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2025).
3. Về án phí: C n cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự n m
2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thị ML phải chịu 200.000 (hai tr m nghìn) đồng án phí hình
sự s thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: C n cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự n m 2015.
Bị cáo; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt t i phiên tòa đ ợc
quyền kháng cáo bản án trong h n 15 (m ời l m) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt t i phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 (m ời l m) ngày kể từ ngày nH đ ợc Bản án hoặc ngày Bản án đ ợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định t i Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nH: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở T pháp; - VKSND huyện CM; - C quan điều tra; - Bộ pH THA Tòa án; - Bị cáo; - UBND xã, ph ờng, thị trấn n i bị cáo c trú; - Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - L u hồ s ; - L u v n phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm V n D n |