vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Phạm Thị L.

Giao con chung tên Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N chưa cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Phạm Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BT
TỈNH QN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/ HNGĐ-ST
Ngày 17/6/2025
Về việc “Tranh chấp về yêu cầu thay đổi
Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BT, TỈNH QN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Lê Thị Diếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thanh Hải;

2. Ông Phạm Duy Huy

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chín - Thư ký Toà án nhân dân huyện BT, tỉnh QN.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh QN tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện BT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2025/TLST- HNGĐ ngày 01/4/2025 về “Tranh chấp về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2025 của Toà án nhân dân huyện BT, giữa các đương sự: -Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn KR, xã BT, huyện BT, tỉnh QN; -Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn NG, xã Ba Khâm, huyện BT, tỉnh QN;

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Chị L và anh N đã ly hôn vào năm 2022. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện BT thì việc thỏa thuận về nuôi con chung như sau:

Chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi con tên: Phạm Thúy T, sinh ngày 24/12/2014.

Anh Phạm Văn N trực tiếp nuôi con tên: Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018.

Nhưng sau khi ly hôn anh Phạm Văn L chỉ nuôi con được vài tháng rồi sau đó thường xuyên ăn nhậu rồi không lo cho con. Từ tháng 8/2022 chị Phạm Thị L đã dẫn con Phạm Khánh H về Thôn KR, xã BT, huyện BT để sống cùng với chị L và từ đó đến nay con Phạm Khánh H trực tiếp ở với chị L và đang theo học tại trường bán trú xã BT. Anh Phạm Văn N không quan tâm lo lắng gì cho con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho con có khẩu để đi học được ưu đãi chế độ. Chị Phạm Thị L yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con Phạm Khánh H từ anh Phạm Văn N sang cho chị Phạm Thị L được trực tiếp nuôi con Phạm Khánh H. Chị Phạm Thị L không yêu cầu anh Phạm Văn N phải cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn: Tòa án đã tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn N theo quy định nhưng anh N không đến Tòa án để làm việc cũng như không có văn bản trình bày gởi cho Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh QN phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71; Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử: Giải quyết chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Phạm Thị L. Giao con chung tên Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Phạm Thị L không yêu cầu anh Phạm Văn N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Phạm Thị L tự nguyện chịu án phí thay cho anh Phạm Văn N nên đề nghị HĐXX ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1]Về tố tụng: Chị L khởi kiện yêu cầu thay đổi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Phạm Văn N, anh N có nơi cư trú thôn NG, xã Ba Khâm, huyện BT, tỉnh QN, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh QN theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Phạm Văn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Phạm Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi ly hôn anh Phạm Văn N đã thường xuyên uống rượu và không chăm lo cho cháu Phạm Khánh H. Chị Phạm Thị L đã dẫn cháu Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018 về sinh sống với chị Phạm Thị L tại Thôn KR, xã BT, huyện BT từ tháng 8/2022 cho đến nay. Anh Phạm Văn N cũng không đến thăm và không có ý kiến gì. Từ khi về sinh sống cùng với chị Phạm Thị L, cháu Phạm Khánh H phát triển đảm bảo và được đi học đầy đủ. Cháu Phạm KHánh H cũng đã có bản trình bày ý kiến là được sống cùng với chị Phạm Thị L.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con Phạm Khánh H từ anh Phạm Văn N sang cho chị Phạm Thị L. Giao con chng Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở theo quy định của pháp luật.

Chị L không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BT về việc giải quyết vụ án, về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên chị Phạm Thị L tự nguyện chịu án phí thay cho anh Phạm Văn N nên HĐXX ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 260, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Phạm Thị L.

Giao con chung tên Phạm Khánh H, sinh ngày 23/4/2018 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N chưa cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Phạm Thị Thị L tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí về thay đổi người trực tiếp nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số T tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị L đã nộp tại Biên lai thu T tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004834 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sựu huyện BT, QN. Chị L đã thi hành xong án phí.

4.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ