- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh T đối với bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung
Bà Huỳnh Thị Thanh Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số B khu H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị xet xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, khu B phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh T trình bày:
Bà Đoàn Thị Thanh T và ông Huỳnh Tấn T1 là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2012 ngày 10/01/2012. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ tháng 01 năm 2024, ông T1 thường xuyên uống rượu với bạn, chơi cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, khi con bệnh ông T1 không chăm lo, để mình bà T lo. Hai vợ chồng mâu thuẫn, sống ly thân từ tháng 4/2024. Bà T nhiều lần nhẫn nhịn, cố gắng chịu đựng để gìn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà T và ông T1 có hai người con chung là cháu Huỳnh Đoàn Anh T2, sinh ngày 02/11/2013 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T3, sinh ngày 05/10/2011. Sau khi ly hôn, bà T đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung là cháu Huỳnh Đoàn Anh T2 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T3.
Về vấn đề cấp dưỡng: Bà T không đề nghị ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 đã được Tòa án triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông T1 vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 đang cư trú tại Số A, khu B phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Thanh T và ông Huỳnh Tấn T1 là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2012 ngày 10/01/2012. Hôn nhân của bà T và ông T1 là hợp pháp. Nay, bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 vì lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.
Bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 đã được tòa án triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc. Việc bà T, ông T1 không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Qua xác minh tại địa phương nơi vợ chồng bà T, ông T1 cư trú thì địa phương không rõ vì vợ chồng bà T, ông T1 không trình báo với địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà T, ông T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 là có cơ sở. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1.
Quá trình chung sống, bà T và ông T1 có hai người con chung là cháu Huỳnh Đoàn Anh T2, sinh ngày 02/11/2013 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T3, sinh ngày 05/10/2011. Bà T đề nghị giao hai cháu Huỳnh Thị Cẩm T3 và Huỳnh Đoàn Anh T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, hai cháu T2 và T3 đang sống ổn định với bà T. Do đó để cháu T3, cháu T2 có điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đảm bảo điều kiện học tập, cần giao cháu Huỳnh Đoàn Anh T2 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T3 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều: 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh T đối với bị đơn ông Huỳnh Tấn T1 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2012 ngày 10/01/2012 do UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, thành phố Hồ Chí Minh cấp).
Về con chung: Giao con chung là cháu Huỳnh Đoàn Anh T2, sinh ngày 02/11/2013 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T3, sinh ngày 05/10/2011 cho bà Đoàn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, ông Huỳnh Tấn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Huỳnh Tấn T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Đoàn Thị Thanh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông Huỳnh Tấn T1.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con khi xét thấy cần thiết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Đoàn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009309 ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T1, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự K – Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND cùng cấp; - THA DS tp Hồ Chí Minh; - UBND phường C; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Kim Thoa |