- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn S - D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Sùng Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 21/3/2025 Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vi Văn Thuy
2. Ông Vàng Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa: Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 11/2025/TLST- HNGĐ ngày 21/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Sùng Thị S, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Thào A D, sinh năm 1978; Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Sùng Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Ngày 14/9/2019 chị S, anh D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn đã sống chung với nhau rất hòa thuận và có các con chung. Sau khi đăng ký kết bắt đầu có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, bất đồng quan điểm trong việc phát triển kinh tế gia đình, anh D còn nghiện ma túy và nghiện rượu, hai vợ chồng đã được trưởng bản hòa giải nhưng không có kết quả, hai vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Chị S không còn tình cảm với anh D nữa nên chị S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thào A D.
Về con riêng, con nuôi: Chị S và anh D không có con riêng, không có con nuôi.
Về con chung: Các đương sự có 05 con chung là các cháu: Thào A V, sinh ngày 10/7/1995, Thào Thị Tr, sinh ngày 01/01/1997, Thào Thị S, sinh ngày 01/01/2000, Thào Thị S, sinh ngày 01/11/2012, Thào A L, sinh ngày 24/12/2019. Đối với 3 cháu lớn đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với 2 cháu nhỏ dưới 18 tuổi chị S yêu cầu nuôi và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
Đối với bị đơn anh Thào A D:
Toà án đã thông báo hợp lệ về việc thụ lý vụ án; được Toà án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải.
Ngày 06/03/2025 Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định xét xử cho các đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị S vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh D. Về con chung, các đương sự có 05 con chung là các cháu: Thào A V, sinh ngày 10/7/1995, Thào Thị Tr, sinh ngày 01/01/1997, Thào Thị S, sinh ngày 01/01/2000, Thào Thị S, sinh ngày 01/11/2012, Thào A L, sinh ngày 24/12/2019. Đối với 3 cháu lớn đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với 2 cháu nhỏ dưới 18 tuổi chị S yêu cầu nuôi và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
Trong xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh D nêu quan điểm không đồng ý ly hôn, không bày tỏ quan điểm về việc giải quyết con chung, về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng do không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử: Chấp hành và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Sùng Thị S. Về con chung, căn cứ Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị S. Về án phí, căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của các đương sự:
Nguyên đơn chị S và bị đơn anh D đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân: Chị S và anh D kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa chị S và anh D là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị S:
Chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh D. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị S và anh D có phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt tình cảm vợ chồng, quá trình chung sống hay bất đồng quan điểm trong việc nuôi dậy con chung và phát triển kinh tế gia đình, anh D đã được Toà án đã triệu tập hợp lệ để hoà giải đoàn tụ nhưng anh D vắng mặt không lý do, cho thấy anh D không có mong muốn hòa giải đoàn tụ gia đình. Chị S và anh D đã sống ly thân từ lâu. Chị S không còn yêu thương anh D, cuộc sống chung không kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị S: Chị S và anh D có có 05 con chung là các cháu: Thào A V, sinh ngày 10/7/1995, Thào Thị Tr, sinh ngày 01/01/1997, Thào Thị S, sinh ngày 01/01/2000, Thào Thị S, sinh ngày 01/11/2012, Thào A L, sinh ngày 24/12/2019. Đối với 3 cháu lớn đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với 2 cháu nhỏ dưới 18 tuổi chị S yêu cầu nuôi và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, đối với ba cháu lớn là các cháu V, Tr và S đều đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn đối với hai cháu nhỏ là cháu S và L, từ nhỏ đã các cháu ở với mẹ, đến khi chị S và anh D phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân thì các cháu vẫn ở với mẹ, các cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống cũng như việc học tập của các cháu không bị xáo trộn, cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu S và cháu L cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Các bên đương sự cũng có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Về con riêng, con nuôi: Các đương sự không có con riêng, không có con nuôi.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ riêng, nợ chung: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ riêng, không có nợ chung.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị S.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Sùng Thị S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Sùng Thị S được ly hôn với anh Thào A D.
2. Về con chung, con riêng, con nuôi:
Con chung: Giao các cháu Thào Thị S, sinh ngày 01/11/2012 và Thào A L, sinh ngày 24/12/2019 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị S không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh D có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh D, chị S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Con riêng, con nuôi: Các đương sự không có con riêng, không có con nuôi.
3. Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Sùng Thị S.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án (TAND tỉnh Điện Biên); - Viện kiểm sát huyện Mường Nhé; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - UBND xã M; huyện Mường Nhé; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung |